Dạng nhân trung luận này đi ngược lại với nhân trung luận được trình bày bởi mô hình kỹ trị, ở đó con người tự xem mình là những chủ nhân của thế giới, hoàn toàn tự do để biến đổi nó bằng kiến thức khoa học kỹ thuật của mình. Thật vậy, theo Đức Giáo Hoàng, bất kể chúng ta chắc hay không chắc về sự tác động của con người vào việc biến đổi khí hậu, rõ ràng rằng sự can dự của con người đến thiên nhiên đang phá huỷ hành tinh và sự sống này, bao gồm cho cả chính con người.[10]
Trong quan điểm này, chúng ta chú ý đến cách thức nhân trung luận của Đức Phanxicô hướng đến rất gần quan điểm của cha Teilhard de Chardin. Trong khi vị tu sĩ dòng Tên người Pháp nhìn nhận nhân loại như “mũi tên của vũ trụ,” thì Đức Giáo Hoàng tin tưởng rằng nền sinh thái học không nên được nhận thức mà không có “một ngành nhân học đầy đủ” (LS 118). Khi Teilhard xem con người là kết quả của sự tiến hoá nơi toàn bộ vũ trụ, thì Đức Phanxicô khẳng định nhân trung luận như một dấu chỉ của sự tặng ban cho con người một trách nhiệm chăm sóc thế giới và môi trường.
Cha Teilhard cố gắng chứng tỏ sự tiến hoá của vũ trụ như là một lộ trình dựa trên hai nguyên tắc căn bản. Một mặt, trong mỗi sự thay đổi của Cây sự Sống, cha nhận dạng một cơ hội, đó là sự xã hội hoá dành cho những cá nhân khác nhau. Quả vậy, từ sự hoà hợp của những nguyên tử để lấp đầy những khoảng trống làm xuất hiện tế bào. Và từ hợp nhất các tế bào, những hình thái của sự sống mới được bắt đầu. Tương tự như thế, sự hoà hợp giữa các sinh vật cũng dẫn chúng ta đến một sự chuyển tiếp trong Cây sự Sống [11]. Mặt khác, cha Teilhard nhấn mạnh thực tế rằng sự tiến hoá đang đưa chúng ta hướng đến một sự phức hợp ngày càng gia tăng trong ý thức của mỗi cá nhân con người. Thế nên, cha khiến chúng ta hiểu rằng sự tiến hoá không đạt đến một sự hỗn hợp trong mọi yếu tố cả vũ trụ, nhưng đạt đến sự hợp nhất trong các cá thể, điều mang lại sự phân hoá cấp tiến giữa chúng, vốn nhấn mạnh đến nét cá vị hoặc riêng biệt.[12]
Tiếp tục vấn đề này, cha Teilhard biện luận rằng ý nghĩa của sự tiến hoá, nghĩa là tính khả tri tròn đầy của nó, lệ thuộc vào chúng ta: thông qua tự do của mình, con người có thể tiếp tục áp dụng hai nguyên tắc trên vào đời sống và mang chúng đến hiệu quả cao nhất. Đây là giai đoạn “noosphere – cảnh giới tâm linh” ở đó chúng ta tìm thấy chính mình [13]. Bằng việc làm như vậy, chúng ta có thể nhìn ra cách thức mà đức ái Kitô giáo, một điều vừa ôm lấy nhân loại và muôn loài thụ tạo, vừa đồng thời tôn trọng nét cá vị của từng cá thể, thể hiện đỉnh cao của sự tiến hoá và nối kết sự thiêng liêng cùng với khoa học vào trong một vũ trụ quan mang tính lịch sử [14]. Cũng theo cha Teilhard, không quá khó để nhận ra nhu cầu đón nhận siêu việt tính của điểm Cứu cánh – Omega, mà với nó Vũ trụ này dễ dàng được hợp nhất bởi tình yêu, bởi sự cuốn hút và không mơ hồ trước Thiên Chúa.[15]
Giờ đây, “hy vọng” của Đức Phanxicô thể hiện trong khả thể về một tương lai được chung tay xây dựng cùng với quan điểm của cha Teilhard. Thực tế, cả hai đều thừa nhận một dạng nhân trung luận không “hiện đại,” không “khác biệt,” cũng không “chuyên quyền,” nhưng thể hiện một xác tín của nhân loại vốn được hướng dẫn bởi một nền đạo đức ngăn chặn “chủ nghĩa cá nhân,” tôn trọng và lượng giá đúng mức thiên nhiên trong sự phát triển của một sự sống mà trong đó mọi yếu tố của vũ trụ được kết hợp.[16]
Ở đây chúng ta có thể nhận thấy một sự bất đồng về nhân trung luận mà có thể được trình bày một cách đơn giản rằng: trong thế giới chúng ta đang cư ngụ, chỉ có loài người sơ hữu được sự tự do để yêu quý hoặc phá huỷ thiên nhiên. Chúng ta có quyền lựa chọn cách sống của mình: chỉ có xã hội của chúng ta mới có thể đưa ra lựa chọn đó, và số phận của thế giới phụ thuộc vào lựa chọn cơ bản này mà nhân loại phải thực hiện. Theo nghĩa này, con người chiếm vị trí trung tâm của thiên nhiên.
Trong bất kỳ trường hợp nào, cả nhân trung luận Kitô giáo theo nhãn quan của cha Teilhard và “nhân trung luận theo hoàn cảnh” của Đức Phanxicô đều từ chối nền nhân trung luận của mô hình kỹ trị mà theo đó thiên nhiên lệ thuộc nhân loại, vốn được coi là những người có thể làm bất kỳ điều gì họ muốn với sự biến đổi của thiên nhiên. Không đủ cơ sở để khẳng định rằng nhân loại chiếm vị trí trung tâm trong vũ trụ, nhưng thật cần thiết để đặt quan điểm nhân trung luận này vào một bối cảnh thúc đẩy chúng ta lượng giá và tôn trọng muôn loài thụ tạo trong vũ trụ, những điều được tạo dựng bởi Thiên Chúa và dĩ nhiên không thuộc sở hữu của chúng ta. Điều này bắt nguồn từ Kitô giáo và là quan điểm dựa trên nền tảng Thánh Kinh mà Đức Thánh Cha yêu cầu một sự biến đổi tiết chế hơn nơi lối sống của chúng ta [17], nhằm bảo vệ ngôi nhà chung của nhân loại. Hiển nhiên rằng đòi buộc này mang sự liên hệ đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, điều vốn được nhận ra bởi phần lớn các nhà khoa học.[18]
Thế nhưng, sự biến đổi dành cho một lối sống chừng mực phải được thúc đẩy cách chủ yếu bằng “những động lực thiêng liêng,” những điều thúc bách chúng ta từ bỏ “ý thức hệ” về chủ nghĩa khoa học hiện đại. Điều này liên hệ đến “việc suy nghĩ lại về việc sử dụng quyền năng” được trao cho chúng ta bởi khoa học kỹ thuật. Dù không dửng dưng trước tầm quan trọng của kiến thức khoa học và tiến trình hỗ trợ của nó dành cho chúng ta, nhưng chúng ta cũng không thể chấp nhận rằng không có giới hạn cho khoa học kỹ thuật, cũng như không thể xem thiên nhiên là tài sải của con người. Trái lại, luôn có khả năng và ao ước để sống hài hoà với thế giới và các thành phần bên trong nó, bao gồm cả chính chúng ta [19]. Thế nên, chúng ta hiểu được cách thức nhân trung luận của Đức Phanxicô nỗ lực để tránh khỏi sự phân cực thái quá giữa con người và thiên nhiên.
Trong bối cảnh này, chúng ta vẫn cần lưu ý cách thức phân biệt giữa giáo huấn của Đức Thánh Cha với tất cả ý thức hệ đang ảnh hưởng đến chúng ta ngày nay. Trong thực tế, cả mô hình kỹ trị của khoa học hiện đại và một số phong trào sinh thái mới hiện nay, vốn bắt nguồn từ giáo phái Mani, đều có khuynh hướng tách biệt nhân loại với thiên nhiên. Về phía mô hình kỹ trị, thiên nhiên được xem như là một điều gì đó được nắn đúc bởi ý chí cá nhân ích kỷ, với việc thiếu lưu tâm đến những hệ quả lâu dài. Với các phong trào sinh thái mới, mặc dù có ý định tốt trong nhiều khía cạnh, nhưng những phong trào sinh thái này đôi khi lại nuôi dưỡng một quan điểm vốn xem xét tiến trình đời sống con người như là một sự nguy hại rõ rệt cho thiên nhiên: nó như thể chúng ta phải lựa chọn giữa nhân loại và thiên nhiên. Cả hai quan điểm trên, bởi sự phân cực thái quá giữa con người và phần còn lại của công trình tạo dựng, đều gây khó khăn cho sự phát triển hài hoà của đời sống con người trong việc tôn trọng môi trường.
Trong sự liên hệ này, chúng ta hãy nhớ lại lời Đức Giáo Hoàng nói, sau khi trích dẫn thông điệp xã hội của người Laudato Si’: “Nếu thế giới không được chiêm ngắm từ bên ngoài mà là từ bên trong, thì chúng ta phải bỏ “tư tưởng rằng nhân loại là người ngoài cuộc, là một yếu tố ngoại tại, chỉ có thể phá hoại môi trường.” Trái lại, con người “phải coi là một phần của thiên nhiên. Cuộc sống, trí tuệ và tự do của con người được tháp nhập vào thiên nhiên, làm phong phú thêm cho hành tinh của chúng ta, là một phần của nội lực và sự cân bằng của nó” (LD 26).
Thế nên, thật cần thiết để tìm kiếm một lối tiếp cận quân bình và căn bản hơn, vốn nhận ra sự nối kết giữa con người và thiên nhiên để đạt đến sự cộng sinh vững bền. Đó là nền linh đạo Kitô giáo mà Đức Giáo Hoàng, cùng với cha Teilhard de Chardin và thánh Phanxicô, tìm kiếm để phát triển trong bối cảnh hiện nay.
Tình huynh đệ rộng mở cho muôn thụ tạo
“Các động lực thiêng liêng” của Đức Thánh Cha Phanxicô làm cho giáo huấn của ngài vượt lên mọi ý thức hệ. Trong đó, những nền tảng Kinh Thánh của các trình bày của ngài luôn được giữ vững. Trong Laudate Deum, Đức Giáo Hoàng dường như đi ra khỏi trào lưu chính thống mang tính khải huyền, điều giản lược sự khủng hoảng hiện nay đến mức chỉ là một vấn đề về môi sinh; và cũng ra khỏi những nhóm người phủi tay vô trách nhiệm vốn không muốn thay đổi bất kỳ điều gì trong xã hội hiện nay. Trong khi nhóm người đầu tiên có khuynh hướng đổ tội cho “người nghèo, vì họ có nhiều con và thậm chí còn cố gắng giải quyết vấn đề, tại các nước kém phát triển bằng cách cắt âm vật phụ nữ”, nhóm người thứ hai lại “mang đến những dữ liệu khoa học cứng nhắc” bởi lẽ họ không muốn chấp nhận con người là nguyên nhân của việc biến đổi khí hậu [20]. Sự phi lý này, vốn bác bỏ những kết luận của đa số các nhà khoa học khác, cũng được tự thể hiện ra nơi những nhà sinh thái học cực đoan, những người muốn vẽ ra một viễn cảnh thảm hoạ, tiên đoán những đo lường phi thực tế dựa trên “những chuẩn đoán về ngày tận thế […] điều dường như không hợp lý hoặc không đủ căn cứ” (LD 17)
Lối tiếp cận quân bình của Đức Giáo Hoàng không hướng chúng ta đến việc bỏ qua khả năng đi tới một mức độ không thể vãn hồi, cũng không giới hạn vấn đề đơn thuần chỉ là một ý thức hệ sinh thái. Nếu chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng môi trường hiện nay, thì vấn đề không chỉ nằm ở chỗ môi trường. Thế nên, các biện pháp được tìm kiếm là những gì có khả năng hài hoà con người và vấn đề xã hội trong tình trạng nguy cấp. Nếu một yếu tố “mang tính chính trị” có thể được phân định trong giáo huấn của Đức Giáo Hoàng, nó bao gồm một nỗ lực để tránh khỏi các ý thức hệ đang đe doạ xã hội chúng ta hiện nay. Trên thực tế, Đức Thánh Cha Phanxicô luôn tìm cách tránh khỏi sự phân chia kết cấu xã hội thành những đảng phái đối nghịch vốn tương tác với nhau bằng những lời nói và động thái bạo lực. Thật vậy, điều quan trọng là phải xem xét rằng cuộc khủng hoảng đặc trưng cho bối cảnh chính trị của chúng ta có liên quan đến sự phân cực và cực đoan hóa ngày càng tăng trong các lĩnh vực chính trị, cũng như các cuộc khủng hoảng về khí hậu, môi trường, xã hội và kinh tế.
Vì vậy, cả hai văn kiện Laudato Si’ và Laudate Deum đều phải được đọc từ nhãn quan của một vị Giáo Hoàng luôn muốn tránh xa khỏi những ý thức hệ chính trị, điều luôn tự phô trương trong cấu trúc xã hội của chúng ta. Trong những văn kiện trên, Đức Giáo Hoàng phát triển một chủ thuyết hoạt động Kitô giáo, đặt nền tảng trên sự đối thoại và cộng tác giữa những con người đến từ những bối cảnh xã hội và tôn giáo khác nhau.
Trong một cách thức tương tự với cha Teilhard, Đức Giáo Hoàng luôn lưu tâm đến những gì mà bối cảnh hiện tại thể hiện. Kể từ khủng hoảng đại dịch năm 2019 đến thách thức về biến đổi khí hậu ngày nay, Đức Thánh Cha nhìn nhận một cách không nghi ngờ rằng ‘“mọi thứ đều được kết nối với nhau” và “không ai được cứu một mình”’ (LD 19). Trong sự liên quan rõ ràng với những gì người đã viết trong thông điệp Fratelli Tutti [21], Đức Phanxicô không chỉ khẳng định về sự liên kết của mọi thành phần trên Trái Đất trong mức độ mà Thiên Chúa đã nối kết chúng ta một cách không thể phân ly với vạn vật, mà còn chắc chắn về những hệ quả của quy tắc này: sự thật về việc mọi thụ tạo được nối kết có ảnh hưởng đến cách thức chúng ta hành động. Nếu chúng ta quen thuộc với quy tắc toàn thể vốn chi phối toàn bộ hệ sinh thái, chúng ta sẽ không thể hành động theo cách thức tàn bạo khiến chúng ta bị tách biệt khỏi những thụ tạo khác. Thay vì những cư xử và thái độ hung bạo, chúng ta có thể mang những dữ liệu được cung cấp bởi cộng đồng khoa học tới một sự hội nhập, ở đó chúng ta có thể thảo luận và hợp tác vì ích chung. Chỉ có như thế chúng ta mới có thể xây dựng sự hiệp nhất và yêu thương vốn mang đến ý nghĩa cho một thế giới đang phát triển.
Thế nhưng, chúng ta chưa nhìn đến một khía cạnh khác mà trong đó Đức Giáo Hoàng nhìn về cha Teilhard. Theo nhà khảo cổ-sinh vật học dòng Tên, giống như việc Thiên Chúa tạo dựng bằng cách hiệp nhất, Đức Thánh Cha cũng tìm cách để phát triển tình huynh đệ giữa những người trong mọi tôn giáo và sắc tộc. Henri de Lubac đã cho rằng nhãn quan của Teilhard giống một “môn siêu hình học của sự hiệp nhất” [22]. Thần học gia người Pháp, người bảo vệ Teilhard cách mạnh mẽ trong Giáo hội và có ảnh hưởng cách đặc biệt lên tiến trình đào tạo tri thức của Jorge Bergoglio. Từ công trình của người anh em dòng Tên, Henry đã chỉ cho chúng ta một tầm nhìn đặc biệt trong việc phát triển con người được thúc đẩy bởi Kitô giáo. Sự tiến bộ, thay vì diễn ra bằng sự đối đầu của những lời khẳng định và phủ định dữ dội về các quan điểm được nắm giữ hệ tại ở chuyển động của sự hội nhập hướng đến sự hiệp thông, cho phép chúng ta tiến tới việc giải quyết các vấn đề mà chúng ta gặp phải ngày nay, đồng thời khiến chúng ta giữ gìn được căn tính riêng biệt của mỗi người.
Với việc nhìn nhận mức độ nghiêm trọng của hiện trạng, đồng thời tránh khỏi những thái quá của ý thức hệ khải huyền, Đức Phanxicô cho thấy rằng người rất quân bình trong quan điểm của mình. Trong việc đón nhận những đóng góp đến từ cộng đồng khoa học, người thể hiện sự sẵn lòng để làm việc với tất cả mọi người có thiện chí phát triển công nghệ chân chính và cổ võ quá trình chuyển đổi năng lượng cách cẩn trọng.
Kết luận
Trong chuyến tông du mới đây đến Mongolia của mình, Đức Giáo Hoàng đã nhắc về cha Teilhard. Hướng đến Trung Quốc, nơi mà vị khảo cổ-sinh thái học dòng Tên đã từng sống, và cũng gần vị trí mà cha Teilhard đã soạn thảo tác phẩm nổi tiếng Thánh Lễ trong Thế Giới (Mass on the World), chính vị linh mục ấy đã gợi nhớ về chiều kích vũ trụ nơi Bí tích Thánh Thể. Trong bối cảnh không thể cử hành Thánh Lễ với bánh và rượu, cha Teilhard đã sáng tác lời kinh nguyện nổi tiếng mà ở đó toàn thể thụ tạo được dâng hiến cho chính Tạo Hoá của chúng, đồng thời thể hiện công trình yêu thương của Người.[23]
Trong bài viết này, chúng ta đã tìm cách để thể hiện sự nối kết giữa Đức Phanxicô và cha Teilhard nơi sự suy tư của Đức Giáo Hoàng về khủng hoảng khí hậu thời đại này. Trong sự cảnh tỉnh của Teilhard, Đức Phanxicô đã đón nhận một tầm nhìn sinh thái học bắt nguồn từ nền tảng Kinh Thánh Do Thái – Kitô giáo. Đó là một nền sinh thái học chảy tuôn từ linh đạo của thánh Phanxicô, một cái nhìn mầu nhiệm mời gọi chúng ta cảm nhận đầy đủ sự hoà hợp vào trong thế giới mà không thuộc về chúng ta, nhưng được tạo dựng bởi Thiên Chúa. Trong ánh sáng của sự nguy cấp về môi trường mà chúng ta đang đối diện, điều này thúc nhắc chúng ta cùng hợp tác và thảo luận với nhau để bảo vệ ngôi nhà chung được giao phó cho chúng ta. Lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng dành cho việc sống tiết chế hơn trong việc sử dụng và sản xuất các mặt hàng cũng thể hiện nền linh đạo này trong bối cảnh hiện tại.
Chúng ta có thể kết luận bằng việc trích dẫn một đoạn Kinh Thánh thể hiện sự tán tụng Đấng Tạo Hoá được đặt trên môi miệng của ngôn sứ Đaniel (x. Đn 3, 52-88). Lời ca của Đaniel vang vọng trong tâm hồn chúng ta, gọi mời chúng ta hành động như một Hội Thánh lữ hành. Bất cứ khi nào chúng ta rao truyền, “Chúc tụng Chúa đi, mọi công trình của Chúa; muôn ngàn đời, hãy ca tụng suy tôn! […] Chúc tụng Chúa đi, mặt trời với mặt trăng…” (Đn 3, 57-62), chúng ta đang hiệp thông với mọi loài thụ tạo khác. Bất cứ khi nào chúng ta kêu mời “các tinh tú trên trời,” “mọi loài chim chóc,” và muôn loài “kình ngư cùng thuỷ tốc” để khong khen lời chúc tụng Thiên Chúa, giọng ca của chúng ta vang lên như một phần của bản hoà tấu vũ hoàn. Hợp nhất sâu sắc với các thụ tạo khác, chúng ta cảm nhận một sự kết hợp hài hoà nơi công trình của Thiên Chúa. Điều này liên hệ đến tình huynh đệ mang tính vũ trụ, điều được thánh Phanxicô trải nghiệm trong sự huyền bí của mình và cũng là điều mà cha Teilhard đã thấy trong sự tiến hoá của vũ trụ. Điều này cũng gắn với sự kỳ vĩ của công trình tạo hoá, của vẻ đẹp Đất Mẹ, vốn luôn chào đón chúng ta. Bắt đầu với sự huyền bí này, chúng ta được mời gọi cộng tác với công trình của Thiên Chúa. Bằng việc làm như thế, chúng ta có thể mở rộng Hội Thánh vượt ra khỏi biên giới nhân loại và bỏ đi sự tự đóng kín trong chính cộng đồng của mình. Bài ca của Đaniel kết hợp dân Thiên Chúa đang lữ hành với toàn thể công trình tạo dựng.