Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

TÔNG HUẤN HÃY NGỢI KHEN THIÊN CHÚA – LAUDATE DEUM

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

TÔNG HUẤN
HÃY NGỢI KHEN THIÊN CHÚA
LAUDATE DEUM

PDF Loading...

 

Vào ngày 4 tháng 10 năm 2023, nhân ngày lễ mừng nhớ Thánh Phanxicô Assisi, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ban hành một tông huấn liên quan đến sự khủng hoảng khí hậu. Nhan đề của văn kiện chính là hai từ đầu tiên của văn kiện được viết bằng tiếng Latin, một lời trích dẫn từ thánh Phanxicô Nghèo Khó: “Hãy Ngợi Khen Thiên Chúa vì Mọi Thụ Tạo của Người”

TÔNG HUẤN “LAUDATE DEUM – HÃY NGỢI KHEN THIÊN CHÚA”
– NỀN SINH THÁI HỌC TRONG ÁNH SÁNG CỦA TIN MỪNG.

Andreas Gonçalves Lind, SJ
La Civiltà Cattolica

WHĐ (07.04.2024) – Vào ngày 4 tháng 10 năm 2023, nhân ngày lễ mừng nhớ thánh Phanxicô Assisi, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ban hành một tông huấn liên quan đến sự khủng hoảng khí hậu. Nhan đề của văn kiện chính là hai từ đầu tiên của văn kiện được viết bằng tiếng Latin, một lời trích dẫn từ Thánh Phanxicô Nghèo Khó: “Hãy Ngợi Khen Thiên Chúa vì Mọi Thụ Tạo của Người” [1]

Thánh Phanxicô, người được xem là gặp khó khăn trong việc viết ra một quy luật để hướng dẫn đời sống thánh hiến, đã thích ca hát với những ca từ và cử điệu bày tỏ niềm vui được sống cùng các thụ tạo khác – các chị em của người. Bởi vậy, những lời đầu tiên này mở ra một nhãn quan mà chúng ta mà dựa vào để đọc văn kiện huấn quyền này của Đức Giáo Hoàng đương kim. Mầu nhiệm thần bí của Thánh Phanxicô là nền tảng cho sự giải thích đúng đắn về văn kiện này.

Trong nhận thức như thế, khi chúng ta bắt đầu tiến trình đọc tài liệu này, thật quan trọng để không lạc mất ánh nhìn trọng tâm vào Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta ngợi khen vì muôn thụ tạo của Người. Nếu không, chúng ta có thể dễ dàng suy nghĩ rằng Đức Giáo Hoàng đang đi theo một ý thức hệ nào đó hợp với thị hiếu ngày nay, được tạo ra bởi các nhóm môi trường thế tục, những nhóm này biện hộ cho sự bảo tồn thiên nhiên đến mức chống lại con người và sự tiến bộ xã hội.[2]

Bất kể ngắn hay dài, dù được tìm thấy ở phần đầu hay phần cuối của tông huấn, thì những quy chiếu về Kinh Thánh luôn là nền tảng cho sự giải thích đúng đắn của văn kiện này. Từ những liên hệ đó, thật dễ dàng nhận thấy rằng Đức Giáo Hoàng không nói trong tư cách người đứng đầu một tổ chức phi chính phủ (NGO) nào đó, nhưng là một người lãnh đạo thiêng liêng đích thực, đặc biệt khi ngài đặt nền tảng cho đặc điểm của một hệ sinh thái mang tính “Kitô giáo” một cách rõ ràng.

Đây là luận đề mà chúng ta sẽ cố gắng triển khai trong những trang kế tiếp. Luôn lưu tâm đến sự nhạy cảm và tính cấp bách của việc chăm sóc môi trường và ngôi nhà chúng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô dựa vào Thánh Kinh và Thánh Truyền như là “kho tàng của đức tin – depositum fidei, nhằm thể hiện tầm nhìn Kitô giáo về sự dấn thân bảo vệ công trình tạo dựng trong bối cảnh khủng hoảng môi trường hiện nay. Để làm như vậy, vị Giáo Hoàng trình bày rõ ràng những quan điểm của cha Teilhard de Chardin (1881-1955).

Với ý thức như thế, thật đáng để nói tới việc Đức Giáo Hoàng đã trích dẫn những đóng góp của cha Teilhard trong thông điệp xã hội đầu tiên của ngài, Laudato Si’ – Hãy chúc tục Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng nhắc đến nhà nghiên cứu khảo cổ dòng Tên này ở cước chú thứ 83, nhằm trình bày về “hành trình của vũ trụ” hướng đến sự “trưởng thành trong tất cả mọi sự” của nó với ngụ ý rằng thái độ “thống trị tàn bạo và vô trách nhiệm của con người trên mọi thụ tạo” cần phải được vượt qua. (LS 83)

Để sự chỉ trích về thái độ trên được chân thật và mang tính Kitô giáo cách rõ ràng, thật cần thiết để thiết lập ba nguyên tắc căn bản, điều chúng ta nhận thấy trong nhiệm vụ chăm sóc cho ngôi nhà chung vốn được cổ võ bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Thứ nhất, sự tôn trọng dành cho thiên nhiên phải được dựa trên hành động tạo dựng của Thiên Chúa, vì thế giới, ngôi nhà chung của chúng ta, chứa đựng một giá trị nội tại, điều phải được tôn trọng như thể đó là tặng phẩm nhưng không đến từ tình yêu Thiên Chúa. Thứ hai, sự nhạy cảm về môi trường được thúc đẩy bởi Đức Giáo Hoàng phát sinh từ một “nhân trung luận (anthropocentrism – lập luận lấy con người làm trung tâm) trong hoàn cảnh nhất định,” đây là điều mà truyền thống Kitô giáo không bao giờ từ bỏ. Thứ ba, bởi vì sự tôn trọng dành cho thiên nhiên trên tất cả bắt nguồn từ một linh đạo làm cho chúng ta tự nhìn mình như là anh chị em với nhau và trong tương quan với các thụ tạo khác, các hoạt động dân sự hoặc chính trị mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô khuyến khích chúng ta luôn là việc đối thoại, phản tỉnh và cộng tác, đồng thời từ bỏ các hành vi bạo lực khiến chúng ta chống lại lẫn nhau, và dẫn đến sự phá huỷ cấu trúc xã hội, đồng thời huỷ hoại căn nhà chung của chúng ta.

Thiên Chúa của vũ trụ

Trong đoạn đầu tiên của tông huấn, Đức Giáo Hoàng giải thích rằng với sự quan tâm đến thiên nhiên của mình, Thánh Phanxicô Assisi đã mặc lấy sự nhạy cảm của Chúa Giêsu, vốn được trình bày cho chúng ta nơi các sách Tin Mừng. Quả thực, những hình ảnh của Chúa Giêsu được thể hiện trong Tin Mừng là hình ảnh của một người vui thích với thiên nhiên hơn là môi trường thành thị. Có lẽ Người gần gũi với các bác nông dân, những người vốn thấu hiểu cách thức “hoa huệ ngoài đồng” tăng trưởng và cách thức “chim trời” ăn uống. Ngoài ra, Chúa Giêsu còn có sự nhạy cảm của một nhà thơ biết kinh ngạc trước những tặng phẩm của Thiên Chúa khi khám phá ra những dấu chỉ của chúng trong thiên nhiên. Nếu Thiên Chúa mặc cho “hoa huệ ngoài đồng” một vẻ ngoài đẹp hơn cả vua Salomon trong bộ cẩm bào (x. Mt 6, 28-29), thì đó là bởi vì tự bản chất thiên nhiên có một giá trị vượt lên khỏi “vẻ vô dụng” của nó đối với con người. Nếu Thiên Chúa đã không quên “những con chim sẻ” mặc dù chúng có vẻ như không có giá trị gì (x. Lc 12,6), điều đó cho thấy rằng những loài thụ tạo này được yêu mến cách sâu sắc bởi chính Thiên Chúa.[3]

Các ý nghĩa Tin Mừng này áp dụng cho vị thánh vùng Assisi và cả chúng ta, những người đang sống trong một thế giới nơi mà chúng ta ngày càng bén nhạy trước các vấn đề của môi trường. Trong bối cảnh như thế, dù đôi khi bị bối rối bởi sự mông lung và đa dạng của các quan điểm, nhưng Đức Giáo Hoàng luôn nhấn mạnh “những động lực thiêng liêng” trong sự tiếp cận của mình.[4]

Trước hết, mấu chốt của vấn đề nằm ở lời khẳng định của Kinh Thánh, đó là thời điểm Thiên Chúa tạo dựng xong thế giới, và Người thấy “tốt lành quá đỗi” (St 1,31). Trong tầm mức thiên nhiên chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa, Hoá Công của nó, Kinh Thánh tuyên bố rằng “đất đai không được bán vĩnh viễn” (Lv 25,23). Quả thật, nhân loại chúng ta chỉ là những “khách trọ và người ngụ cư” trong “ngôi nhà chung” được giao phó cho chúng ta bởi tình yêu mà thôi [5]. Đây là lý do tại sao chúng ta phải có trách nhiệm “đối với mảnh đất thuộc về Thiên Chúa” [6].

Nền tảng của sự trân trọng dành cho thiên nhiên hệ tại Thiên Chúa là Đấng Sáng tạo thiên nhiên. Không phải ngẫu nhiên mà Thánh Phanxicô Assisi bắt đầu bài ca của mình bằng lời ngợi khen Thiên Chúa. Và đó là lời mời gọi đi kèm khi Đức Giáo Hoàng giới thiệu văn kiện về môi trường này. “Laudate Deum – Hãy Ngợi Khen Thiên Chúa vì Mọi Thụ Tạo của Người.” Lời chúc tụng dâng lên Thiên Chúa là điều không thể thiếu cho sự bén nhạy với môi trường, đây là điều nên trở thành một phần của truyền thống Kitô giáo. Nói cách khác, sự tôn trọng trong tương quan hàng ngang giữa các thụ tạo được thúc đẩy bởi niềm tôn kính trong tương quan hàng dọc với Thiên Chúa, điều đó khiến chúng ta ngợi khen Thiên Chúa trên hết mọi sự.

Đối với Đức Thánh Cha, thật rõ ràng rằng với lời ngợi khen của thánh Phanxicô dành cho Thiên Chúa, Đấng được yêu mến trên hết mọi sự, tình yêu dành cho thụ tạo không bị giảm lược chút nào. Trái lại, tình yêu dành cho Thiên Chúa làm gia tăng lòng yêu quý dành cho thiên nhiên với hai lý do căn bản: thứ nhất, chúng ta hiểu rằng, trong tình yêu dành cho Thiên Chúa, chúng ta cũng phải yêu những gì thuộc về Người và yêu những gì Người yêu, nghĩa là chính công trình tạo dựng mà Thiên Chúa đã tác tạo với lòng yêu thương; thứ hai, các thụ tạo có một giá trị nội tại đáng được tôn trọng, giá trị này cao trọng đến mức Thiên Chúa sẵn sàng khao khát và yêu thương chúng.

Sự năng động thập giá này, được mô tả bởi Đức Thánh Cha Phanxicô, rất gần với nhãn quan của cha Teilhard de Chardin, người cũng được gợi hứng bởi những nhận thức của trường phái thánh Phanxicô. Chúng ta nên đặc biệt đề cập đến sự năng động của tình yêu Thiên Chúa, điều nối kết hành động sáng tạo với mầu nhiệm Nhập thể và mầu nhiệm Cứu chuộc. Chúng ta có thể hiểu điều này từ lời khẳng định của Đức Giáo Hoàng trong sự tham khảo dành cho nhà khoa học dòng Tên: “Khi nhấn mạnh rằng mỗi người là một hình ảnh của Thiên Chúa, chúng ta không được coi nhẹ sự thật là mỗi thụ tạo đều có một mục đích riêng của nó. Không có gì là vô ích. Toàn bộ vũ trụ vật chất nói về tình yêu của Thiên Chúa, lòng trìu mến vô biên của Ngài dành cho chúng ta. Đất, nước, núi non: mọi thứ đều là một sự nâng niu của Thiên Chúa như nó đã là” (LS 84).

Trong phân đoạn này của thông điệp Laudato Si’, Đức Thánh Cha đã tin tưởng đón nhận quan điểm của cha Teilhard. Với một trái tim huyền bí, đây là vấn đề của sự chiêm niệm về một thế giới trên một “hành trình” liên lỉ hướng đến sự “viên mãn” vốn chỉ được nhận ra nơi Thiên Chúa, Đấng trổi vượt khỏi vũ trụ [7]. Vũ trụ này không bị giản lược vào bản chất tự nhiên của nó, bản chất khép kín với thiêng liêng. Thật ra, với việc được tác tạo và yêu mến bởi Thiên Chúa từ khởi thuỷ, thế giới này không thể chỉ là một trật tự “tự nhiên” thuần tuý [8]. Đó là nhãn quan của Teilhard, một nhãn quan chiêm ngắm sự tiến hoá của thế giới như một “Christogenesis – Kitô học sáng tạo” và được chứa đựng trong sự hiệp thông giữa toàn thể thế giới và Cùng đích (Omega) của nó thông qua trung gian con người. [9]

Thế nên, con người được kêu mời tham dự cách tích cực vào năng động tính này, đồng thời hoạt động như những người bảo hộ của thụ tạo và dẫn dắt vạn vật hướng đến sự thành toàn cuối cùng của chúng. Ngoài ra, không thể mang cho thế giới một giá trị nào cao quý hơn giá trị mà nhãn quan Kitô giáo ban tặng. Dường như cũng không thể có cách thức tôn trọng công trình tạo dựng nào tốt hơn như thế, vì không điều gì hoặc không người nào có thể quy gán cho thụ tạo một giá trị cao cả hơn chính Thiên Chúa. Vậy nên, giá trị của các thụ tạo, vốn phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa và quy về Người bằng những lời ca tụng, được xem như thiết lập một nền tảng hoàn thiện nhất cho tất cả sự quan tâm mà chúng ta dành cho môi trường. Chỉ trong bản tính mở ra cho một sự năng động chứ không phải đóng kín chính mình, chúng ta mới thực sự có thể biết trân quý vẻ đẹp của thế giới, nhận ra giá trị nội tại của nó và thấu hiểu đầy đủ trách nhiệm của mình đối với tất cả thụ tạo, vốn cùng sẻ chia thế giới này với chúng ta.

Với sự lưu tâm này, chúng ta nên chú ý đến cách thức Đức Giáo Hoàng Phanxicô khiển trách “mô hình kỹ trị ẩn tàng bên dưới tiến trình gây suy thoái môi trường hiện nay” (LD 20). Vấn đề đầu tiên hệ tại việc mô hình bảo tồn này không lập tức cứu xét đến sự phá huỷ thiên nhiên vốn gắn liền với nó: đây là quan điểm đầu tiên và trước hết khiến con người tự mình đảm nhận vai trò của tạo hoá.

Chẳng có gì ngạc nhiên khi bằng một cách thức khơi gợi lời ca tụng dành cho Thiên Chúa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô kết luận Tông huấn Laudate Deum – Hãy ngợi khen Thiên Chúa tương tự như cách người mở đầu nó. Trong việc lựa chọn hạn từ “ngợi khen Thiên Chúa” như là tiêu đề cho tông huấn này, Đức Giáo Hoàng đã làm điều này một cách có chủ đích, “vì khi con người chiếm lấy vị thế của Thiên Chúa, họ trở thành kẻ thù nguy hiểm nhất của chính mình” (LD 73). Bình luận này được dựa trên tư tưởng rằng sự tiếp cận kỹ nghệ, với sự nhấn mạnh của nó vào việc kiểm soát và điều khiển thiên nhiên, ngụ ý một sự kiêu ngạo của con người với mong muốn thay thế Thiên Chúa. Khi con người ngày càng đề cao khả năng nhận thức của mình đến nỗi mà họ tự nhận định khả năng hiểu biết, tiên đoán và biến đổi thế giới theo ý mình, thì ý nghĩa cá nhân trong những mối tương quan của họ bị vùi lấp và sự tan vỡ trong việc chiêm ngắm thế giới sẽ bắt đầu xuất hiện. Ở trong chủ thuyết tất định đến sau chủ nghĩa duy khoa học kỹ nghệ, nhân loại mất đi ánh nhìn ngạc nhiên vào vẻ đẹp nội tại của công trình tạo dựng.

Sự ngạc nhiên này được làm nổi bật bởi nhãn quan Kitô giáo, theo đó thế giới này là tặng phẩm nhưng không đến từ Thiên Chúa. Bằng cách đặt Thiên Chúa làm nền tảng, điều đó không chỉ đặt ra một giá trị tự thân và hữu lý dành cho thiên nhiên khiến chúng ta phải tôn trọng, mà còn dưỡng nuôi một kinh nghiệm giống với kinh nghiệm đã được sống bởi thánh Phanxicô Assisi và của chính Chúa Giêsu trong Tin Mừng. Kinh nghiệm huyền bí này thúc nhắc để chúng ta cư ngụ trên Trái Đất này với một lòng biết ơn và trân trọng dành cho mọi thụ tạo cùng sẻ chia ngôi nhà chung với chúng ta. Vì vậy, ý thức về một tặng phẩm nhưng không được phát xuất từ Thiên Chúa lôi kéo chúng ta hành động như những người bảo vệ công trình sáng tạo hơn là tìm cách để thâu tóm hay phá hoại nó một cách không giới hạn.

Vai trò của con người trong thiên nhiên

Vì chúng ta hiểu rằng tình yêu hướng đến Thiên Chúa không làm hạn chế nhưng thúc đẩy tình yêu dành cho mọi thụ tạo. Giới luật yêu thương của Tin Mừng, được thể hiện trong ba chiều kích: Thiên Chúa, tha nhân và chính mình (x. Mt 22,37-40; Mc 12,29-31; Lc 10,26-28), phải được mở rộng ra với tương quan của chúng ta với vạn vật.

Mặt khác, việc yêu thương tha nhân tạo ra một hành động hướng đến vạn vật một cách tự nhiên. Trong mức độ chúng ta là một phần của thế giới, cùng với những hữu thể khác trên Trái Đất, chúng ta nhìn nhận vạn vật như là những anh chị em của chính mình. Trong việc gắn chặt với Tin Mừng và nền thần bí học theo trường phái thánh Phanxicô, Đức Giáo Hoàng khẳng định: “Mọi sự đều có liên hệ, và chúng ta là những con người hiệp nhất với nhau như anh chị em trên cuộc lữ hành kỳ diệu, đan dệt với nhau bằng tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mỗi thụ tạo và tình yêu ấy cũng hiệp nhất chúng ta trong tình cảm trìu mến với anh Mặt Trời, chị Mặt Trăng, anh Sông và mẹ Đất” (LS 92). Vì vậy, thật hiển nhiên rằng sự huyền nhiệm này đón nhận một niềm tôn trọng sâu sắc dành cho sự sống trong tất cả dạng thức của nó: thúc đẩy sự an toàn cho thú vật, bảo hộ những hệ thống môi sinh và luật công bằng trong sự phân bổ các nguồn tài nguyên.

Một khía cạnh khác, với sự nhạy cảm môi sinh của ngày nay, khi tính đến sự cấp bách mà cuộc khủng hoảng khí hậu gây ra cho chúng ta, chúng ta có thể đào sâu lòng yêu thương chính mình trong sự nối kết mật thiết với việc chăm sóc ngôi nhà chung, sự bảo tồn ngôi nhà là điều thiết yếu cho một cuộc đời đáng sống. Điều này cũng bắt nguồn từ việc đào sâu giới luật yêu thương của Tin Mừng mà Đức Giáo Hoàng đòi hỏi cho một sự quản lý tài nguyên bền vững, giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi sinh. Nói cách khác, việc yêu thương chính mình trong tư cách là hữu thể con người ở thời đại này nghĩa là hành động vì một thế hệ tương lai để họ có thể phát triển và sống trong một môi trường lành mạnh và phong nhiêu.

Đây được thể hiện như là vai trò trọng yếu mà nhân loại đảm nhận trong “hành trình” của thế giới hướng đến sự “thành toàn” của nó trong Thiên Chúa. Vì thế, trung thành với truyền thống Do Thái-Kitô giáo, Đức Thánh Cha giải thích “nhân trung luận” theo quan điểm của mình, bởi đó nhân loại có một “giá trị đặc biệt và trọng yếu […] giữa sự kết hợp diệu kỳ của vạn vật”. Phải thừa nhận rằng đó là một “nhân trung luận”, trong mức độ “sự sống con người” không được hình thành hay tồn tại mà “không có các sinh vật khác”. (LD 67).

1 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!