Chúng con cám ơn Cha Phan Tấn Thành dòng thánh Đa Minh đã gửi cho chúng con bản tài liệu này.
=====
110 CÂU HỎI ĐÁP VỀ
GIÁO HUẤN XÃ HỘI CÔNG GIÁO
Học Hỏi về Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo

Lời Giới Thiệu
Khi loay hoay tìm câu trả lời trước những vấn nạn trong xã hội, người Kitô hữu thường gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt trong các lĩnh vực về tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, bác ái, công bằng… im lặng hay lên tiếng trước những cảnh bất công? Thái độ im lặng nào là phù hợp và thái độ lên tiếng như thế nào cho đúng đắn? Giữa sự thực thi bác ái và thực thi công bình thì việc nào quan trọng hơn? …
Dựa vào tài liệu: “The Social Agenda a Collection of Magisterial Texts” với lời giới thiệu của chủ tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình, ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận. Huynhquảng lược dịch và trình bày tài liệu này dưới dạng hỏi thưa, ngắn ngọn, dễ hiểu với hy vọng duy nhất là giới thiệu cho quí vị một cái nhìn tổng quát nhưng thực tế nhằm cho những ai đang thao thức cho việc xây dựng xã hội, giáo hội trong tinh thần trách nhiệm. Nói tóm lại, tài liệu này không dành cho các nhà nghiên cứu, tra khảo chuyên môn, nhưng nó trả lời cho những ai đang thao thức sống đúng giá trị Tin Mừng giữa lòng xã hội, đồng thời cũng nhắc nhở cho họ thấy bổn phận và quyền làm người của chính họ.
Đọc thêm GLCG (Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo)
Giáo Hội là Thầy và là Mẹ (số 1-38)*
- Học thuyết về xã hội của Giáo hội Công Giáo là gì?
Học thuyết Xã hội Công giáo (HTXHCG) là quan điểm của nền thần học đạo đức áp dụng vào các vấn đề xã hội mà Giáo hội đã dựa vào Truyền Thống và Kinh Thánh để lên tiếng về những vấn đề cấp thiết đang diễn ra trong xã hội, nhằm hướng dẫn nhân loại đi đúng con đường về nhà Cha chung. Thông điệp Rerum Novarum của ĐGH Leo XIII vào năm 1891 như là cột mốc khởi điểm cho học thuyết này.
- HTXHCG ra đời trong hoàn cảnh nào?
Học Thuyết Xã Hội Công Giáo ra đời vào thế kỷ 19. Khi con người phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh trong xã hội như: nền công nghiệp phát triển, những ý thức hệ mới về hưởng thụ, tự do, chính quyền, nhà nước và nhiều hình thái lao động mới cũng xuất hiện, trong hoàn cảnh ấy, Giáo hội trình bày Học Thuyết Xã Hội Công Giáo một cách chính thống và sống động cho mọi người.
- Giáo hội có phải là Mẹ và là Thầy dạy của các dân tộc trên thế giới không?
Thưa phải. Giáo hội được Chúa Giêsu thiết lập với vai trò là Mẹ và Thầy của mọi dân tộc – Đấng thiết lập ủy thác trách nhiệm nuôi dưỡng và dạy dỗ không những cho con cái mình mà còn cho mọi dân tộc. Giáo hội phải thực thi công việc này với tất cả trách nhiệm và sự tôn trọng. (cf. Mater et Magistra, # 1 )
- GH thực hiện công việc này đối với các dân tộc trên thế giới như thế nào?
Giáo hội thực hiện công việc này không chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng gương mẫu và hành động trong lãnh vực từ thiện và xây dựng công bằng xã hội. Với trách nhiệm cai quản và bảo vệ Kho tàng Đức tin, Giáo hội lên tiếng để bảo vệ chân lý đức tin; đồng thời cũng lên tiếng để hướng dẫn mọi người nhận ra sự thật, những giá trị luân lý, những nền tảng nhân quyền, đặc biệt là ơn cứu độ.
- Tại sao Giáo hội lại dùng HTXHCG để nhắc nhở các tín hữu?
Chúng ta tuyên xưng đức tin rằng: Nước Trời được bắt nguồn từ Giáo hội của Chúa Giêsu mà không phải từ thế giới này. Vì thế, HTXHCG nhắc nhở Kitô hữu không nên bị lầm lẫn trước những hình thái về sự phát triển văn minh, kỹ thuật, khoa học của con người. Dù sự phát triển này có vượt bậc và nhanh chóng đến đâu thì chúng cũng không có giá trị vĩnh hằng; và chúng cũng không bao giờ phản ảnh đủ mầu nhiệm vĩnh cửu sâu thẳm trong Đức Kitô. Của cải vật chất trong thế giới này chỉ có giá trị tạm thời và chỉ là phương tiện để con người hoàn thành ơn gọi của mình bằng việc cổ vũ cho hòa bình, công bình, giúp đỡ đồng loại cả vật chất lẫn tinh thần.
- Giáo hội có phải là một thực thể tách rời không liên hệ đến xã hội không?
Thưa không, Giáo hội sống trong thế giới và là thành phần của thế giới nên Giáo hội có trách nhiệm liên đới với thế giới. Giáo hội chia sẻ mọi ưu tư, vui mừng và hy vọng với thế giới. Âu lo của thế giới cũng là âu lo của Gíao hội; vui mừng của thế giới cũng là vui mừng của Giáo hội.
- HTXHCG có phải là “thuyết thứ ba” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không?
HTXHCG không phải là “thuyết thứ ba” giữa Chủ nghĩa Tư bản và Chủ nghĩa Xã hội và cũng không phải là một ý thức hệ. Nhưng HTXHCG, dựa vào Truyền thống và Đức tin, là kết quả từ những suy tư cẩn trọng về những vấn nạn của thế giới con người. Dưới ánh sáng Tin Mừng, HTXHCG minh giải những thực tại trong thế giới nhằm giúp con người cư xử với nhau theo giá trị vĩnh cửu. Vì thế, HTXHCG không phải là một ý thức hệ, nhưng là một nền thần học luân lý cho mọi người.
- Rao giảng Tin Mừng có phải là nhiệm vụ bắt buộc của Giáo hội không?
Giáo hội lãnh nhận sứ mạng rao giảng Tin Mừng từ Chúa Giêsu. Đây là nhiệm vụ bắt buộc và là sứ mạng không thể thoái thác. Đến lượt chúng ta là Kitô hữu, chúng ta cũng được sai đi, vì thế chúng ta phải thực hiện sứ mạng này một cách nghiêm túc và trách nhiệm.
- Rao giảng Tin Mừng trong thời đại mới có bao hàm rao giảng về HTXHCG không?
ĐGH Joan Phaolô II trong thông điệp Centesimus Annus số 5 đã minh bạch: “Tôi đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, việc rao giảng Tin Mừng trong thời đại mới phải rao giảng những điểm quan trọng của Học thuyết Xã hội của Giáo hội…chúng ta cần phải lập lại rằng những vấn đề xã hội không thể giải quyết ngoài bối cảnh Tin Mừng được”. Vì thế, khi thực hiện sứ mạng rao giảng Tin Mừng, Giáo hội không ngần ngại rao giảng HTXHCG. Vì học thuyết này, không nhằm mục đích nào khác hơn là hướng dẫn con người cư xử với nhau dựa theo đức công bình. Hơn nữa, học thuyết này như là nền tảng cho việc xây dựng sự hiệp nhất và hòa bình khi con người không thể tránh gặp phải những vấn đề trong đời sống xã hội và kinh tế. Khi thực hiện như thế, Giáo hội chu toàn sứ mạng rao giảng Tin Mừng bằng cách rao giảng chân lý về Đức Kitô, về con người, về Giáo hội và áp dụng chân lý ấy vào những hoàn cảnh thực tế.
- HTXHCG có vai trò như thế nào trong thế giới ngày nay?
HTXH như là một phương tiện hữu hiệu để Giáo hội thực hiện mục đích của mình: Rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc. Đứng trước những vấn nạn của xã hội hôm nay, Giáo hội càng ý thức hơn và rao truyền rộng rãi hơn những giáo huấn của mình. Giáo hội giới thiệu với thế giới những nguyên tắc căn bản cho việc nhận định, quyết định và hướng dẫn hành động trong xã hội. Điều này góp phần rất lớn trong việc nhận thức vấn đề đúng đắn và tìm giải pháp phù hợp cho những vấn nạn nảy sinh trong xã hội.
Đọc thêm GLCG: 2419-2525
Phẩm Giá, Sự Tự Do và Tính Xã Hội (số 39 – 65)
- HTXHCG đề cập đến phẩm giá con người như thế nào?
Phẩm giá con người được biểu lộ trong nguồn gốc và cùng đích của chính mình. Vì được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và được cứu độ bằng Máu thánh của Đức Kitô, nên con người được trở thành con Thiên Chúa, là đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần, và được chia sẻ đời sống vĩnh cửu với Thiên Chúa. Vì lý do này, bất cứ sự xúc phạm nào đến phẩm giá con người đều là sự xúc phạm đến chính Thiên Chúa, Đấng tạo dựng con người.
- Giáo hội bảo vệ phẩm giá con người như thế nào?
Giáo hội kiên quyết bảo vệ phẩm giá con người dưới mọi hình thức. Nhất là đối với những luồng tư tưởng coi thường phẩm giá con người, và cả những luồng tư tưởng thần tượng hóa con người. Vì không có luật nào của loài người, dù khôn khéo và bảo đảm đến đâu, cũng không thể sánh được với luật Tin Mừng của Đức Kitô mà Giáo hội được ủy thác. Tôn trọng phẩm giá con người là chu toàn luật Tin Mừng của Đức Kitô.
- Chúng ta có trách nhiệm liên đới trong việc bảo vệ phẩm giá con người không?
Thưa có. Phẩm giá con người mang một giá trị siêu việt. Vì đươc tạo dựng bởi Thiên Chúa, nên tự bản chất con người luôn hướng về Đấng đã tạo nên mình và đồng thời họ cũng không ngừng hướng đến đồng loại mang cùng phẩm giá như mình. Vì thế, kiến tạo hạnh phúc cho mỗi cá nhân là thúc đẩy điều thiện hảo cho cộng đồng nhân loại, mà mỗi cá nhân là thành phần trong cộng đồng ấy. Vậy, trách nhiệm liên đới là quyền và bổn phận cần được thúc đẩy và tôn trọng.
- HTXHCG đề cập đến sự tự do của con người như thế nào?
Khi đề cập đến vấn đề luân lý, chúng ta không thể không đề cập đến sự tự do. Vốn mang hình ảnh của Thiên Chúa trong phẩm giá siêu việt của mình, nên sự tự do của con người, tự trong bản chất là hướng về Thiên Chúa. Vì thế, sự tự do không thể tách rời khỏi con người được. Không có một quyền lực cá nhân hay tổ chức nào có thể kiềm chế hay tước đoạt sự tự do của con người. “Con người tự do là bởi vì họ sở hữu khả năng tự quyết những gì liên quan đến sự thật và thiện hảo.” (World Day of Peace Message, 1981, #5)
- “Tôi muốn là gì thì làm.” có phải là tự do không?
Thưa không. Vì tự do không chỉ là quyền đòi hỏi của mỗi cá nhân, nhưng nó còn là bổn phận đối với người khác. Tôi dùng tự do để phục vụ cho cá nhân và cộng đoàn của tôi, nhưng tôi cũng phải biết tôn trọng quyền tự do của những cá nhân và cộng đoàn khác. Điểm này như đặt giới hạn cho sự tự do, nhưng thật ra nó thật logic và phù hợp với giá trị của sự tự do: vì tất cả chúng ta đều mang tính xã hội. Trong Homily in Baltimore, 1995, ĐGH John Paul II nhấn mạnh: “Mọi người cần phải nhớ rằng: tự do không có nghĩa là chúng ta làm những gì chúng ta thích, nhưng là có quyền để làm những gì chúng ta phải làm”.
Mặt khác, vì quá mãi mê những tạo vật thế gian, có những người đã trở nên mù quáng. Họ đã lạm dụng sự tự do của chính mình, nên họ trở thành một ngục tù giam cầm chính họ. Họ phá vỡ tình huynh đệ và trở nên đối nghịch với sự thật.
- Thế nào là tự do đích thực?
Chúa Giêsu đã phán: “Sự thật sẽ giải thoát các con” (Jn 8: 32). Như vậy, điều kiện tiên quyết để có sự tự do đích thực là con người phải gắn liền với sự thật. Vì chỉ trong sự thật thì sự tự do mới được viên mãn. Đồng thời, để có thể tiếp cận được sự thật, con người cần phải tránh mọi kiểu tự do hão huyền, giả tạo. Vì những kiểu tự do giả tạo này sẽ không dẫn ta vào sự thật về con người và về thế giới. (cf. Redemptor Hominis, # 12)
- Không có tự do đích thực thì phẩm giá của con người có được tôn trọng không?
Thưa không. Trong thế giới ngày nay, con người dễ dàng lẫn lộn giữa sự tự do đích thực và tự do phóng túng. Nhân danh sự tự do, có nhiều người hành động một cách không có ý thức về luân lý, tức là coi thường phẩm giá con người. Vậy khi chúng ta không có tự do đích thực, nghĩa là chúng ta không sống trong sự thật, thì phẩm giá con người cũng không được tôn trọng.
- Con người có mang tính xã hội không?
Thiên Chúa là Cha, theo ý định yêu thương của Người, đã tạo dựng loài người trong một gia đình nhân loại, vì thế con người nên cư xử với nhau theo tình anh em. Tính xã hội nơi con người được minh chứng cụ thể rằng: sự phát triển của mỗi cá nhân gắn liền với sự phát triển của xã hội; điều này luôn luôn hổ tương cho nhau. Thực tế cho thấy, mục đích ban đầu của các thể chế xã hội là nhằm phục vụ con người, và đây cũng là bản chất của xã hội loài người. Chính vì thế, xã hội tính nơi con người không phải là một đặc tính được thêm vào cho con người, nhưng là xuyên qua quá trình làm việc, trao đổi, đối thoại con người phát triển mọi khả năng của mình để cùng giúp nhau đi tới vận mệnh chung của mình.
- Nguyên nhân nào làm cho con người đánh mất tính xã hội để rơi vào chủ nghĩa cá nhân?
Ngày nay, nhiều cá nhân thường bị bóp nghẹt giữa hai cực: Nhà nước và thị trường. Sự hiện hữu của mỗii cá nhân như là những công cụ để sản xuất và tiêu thụ, hoặc như là đối tượng cho việc quản lý của nhà nước. Vì thế, nhiều người dễ dàng đánh mất sự thật rằng: mục đích đời sống xã hội không phải là nhà nước hay thị trường, nhưng tự bản chất, đời sống xã hội mang một giá trị độc đáo mà nhà nước và thị trường phải phục vụ cho giá trị ấy. Chính sự lầm lẫn nghiêm trọng này, con người mất khả năng nhận thức về sự liên đới trong cộng đồng nhân loại, dẫn đến hậu quả là đề cao chủ nghĩa cá nhân thay vì xã hội tính nơi mỗi người.
- HTXH đề cập đến trách nhiệm xây dựng xã hội của mỗi cá nhân như thế nào?
Mỗi một cá nhân là thành viên của gia đình nhân lọai. Tất cả mọi người đều được mời gọi đóng góp vào sự phát triển của nhân loại. Tất cả các nền văn minh được sinh ra, phát triển và chết đi, nhưng loài người luôn phát triển theo dòng lịch sử. Mỗi chúng ta đều được thừa hưởng những di sản của tổ tiên và tiếp tục được hưởng những thành quả của xã hội đương đại. Ví lý do này, mỗi người phải có bổn phận xây dựng xã hội không phải chỉ vì cho chúng ta hôm nay, mà còn phải có trách nhiệm để lại những giá trị quí báu cho thế hệ mai sau.
- Nhân quyền là gì?
Nhân quyền là những quyền căn bản mà mọi người đều có. Đó là quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và những phương tiện cần thiết để phát triển đời sống của họ như: lương thực, nhà ở, nghỉ ngơi, y tế và những dịch vụ xã hội tối thiểu khác. Vì thế, khi con người mất khả năng làm việc do bệnh tật, già yếu, thất nghiệp hay vì bất cứ nguyên nhân nào mà dẫn đến hậu quả ảnh hưởng đến sự tồn tại của họ, thì họ cũng có quyền được bảo vệ. Những quyền cơ bản nêu trên có giá trị cho mọi người và mang tính bắt buộc, không thể bị xâm phạm.
- Nguyên tắc cơ bản nào được áp dụng trong HTXHCG để bảo vệ nhân quyền?
Về mặt pháp lý, dựa theo quy tắc đức công bằng. Nhân quyền được bảo đảm đầy đủ và không thiên vị. Theo trật tự công bằng do bởi ý Thiên Chúa, những giá trị nhân quyền nơi mỗi người mang tính vĩnh viễn. Họ có đầy đủ quyền để đòi hỏi nhân quyền của họ, nên không có một cơ chế độc tài nào có thể tước đoạt nhân quyền được. (cf. Pius XII, Christmas Eve Radio Message, 1942).
Về mặt luân lý, nhân quyền cần được bảo vệ vì nhân quyền được xuất phát từ phẩm giá của con người. Mọi nhà cầm quyền điều phải thừa nhận tính hợp pháp luân lý này. Nếu bất cứ nhà cầm quyền nào miệt thị, từ chối điều này, thì nền luân lý của xã hội ấy cũng sẽ bị suy yếu, xói mòn; và chính quyền chỉ có thể dùng vũ lực để buộc người dân tuân theo ý họ. (cf. GLCG #1930)
- Thực thi nhân quyền có giúp con người hướng đến Thiên Chúa không?
Thưa có. Khi mối quan hệ trong xã hội con người được biểu hiện bằng quyền và bổn phận thì con người ngày càng ý thức hơn về những giá trị tinh thần, ý nghĩa của công bằng, bác ái, tự do và họ cũng hiểu sâu hơn rằng họ đang sống trong thế giới có giá trị. Khi nhận ra điều đó, họ đang được dẫn vào khả năng nhận biết một Thiên Chúa gần gũi và siêu việt. Vì thế, đời họ sẽ được gắn chặt với Thiên Chúa là nền tảng và tiêu chuẩn tuyệt đối cho cả đời sống tâm linh và xã hội của họ. (cf. Pacem in Terris #45)
- Mỗi cá nhân có bổn phận tôn trọng nhân quyền không?
Mỗi cá nhân khi ý thức về quyền của chính mình như thế nào thì họ cũng cần phải ý thức về bổn phận của chính họ như vậy. Mỗi một người, dù có khác biệt về diện mạo, vị trí xã hội, tư chất thông minh và cả nhận thức luân lý, nhưng tất cả đều có chung một nguồn gốc và cứu cánh là Thiên Chúa. Vì thế, tất cả các hình thức kỳ thị về văn hóa, xã hội, chủng tộc, giới tính, màu da, vị trí xã hội, ngôn ngữ và tôn giáo là đi ngược lại với ý định của Thiên Chúa.
- Nhà nước có bổn phận tôn trọng các tổ chức xã hội không?
Tất cả mọi tổ chức con người, cả nhà nước và cá nhân, đều phải có trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ nhân quyền. Một mặt, các tổ chức cá nhân thực thi quyền tự nhiên của họ khi thành lập các tổ chức xã hội. Mặt khác, một trong các bổn phận chính yếu của nhà nước là phải bảo vệ quyền tự nhiên của con người, trong đó có quyền lập hội. Như vậy, nếu nhà nước ngăn cấm công dân mình tham gia vào các tổ chức xã hội, thì điều đó trái với bản chất của nhà nước. Vì thực ra, cả nhà nước và các tổ chức xã hội đều được sinh ra từ một nguyên tắc căn bản là: con người, theo bản chất tự nhiên, họ liên kết với nhau. (cf. Rerum Novarum, # 51).
- Rao giảng Tin Mừng có bao gồm việc rao giảng về nhân quyền không?
Thưa có. Những quyền căn bản của con người nhất thiết phải được gắn chặt với sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Giữa những quyền căn bản ấy, quyền tự do tôn giáo chiếm một vị trí hết sức quan trọng (cf. Evangelii Nuntiandi, # 39).
- Giáo hội nói gì về quyền tự do tôn giáo?
Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo số 2 của Công Đồng Vatican II trình bày: “Thánh Công Ðồng Vaticanô này tuyên bố con người có quyền tự do tôn giáo. Quyền tự do này hệ tại con người không bị chi phối vì sự cưỡng bách của cá nhân, đoàn thể xã hội hay bất cứ quyền bính trần gian nào khác. Với ý nghĩa đó, trong lãnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, dù cho đó là hành động riêng tư hay công khai, một mình hay cùng với người khác, trong những giới hạn chính đáng. Hơn nữa, Thánh Công Ðồng còn tuyên bố rằng tự do tôn giáo thực sự được xây dựng trên phẩm giá con người, một phẩm giá đúng như lời Thiên Chúa mạc khải và chính lý trí cho biết được. Quyền tự do tôn giáo của con người trong cơ cấu pháp lý của xã hội phải được chấp nhận là một quyền lợi dân sự.” (Dignitatis Humanae, # 2).
- Vi phạm tự do tôn giáo có phải là sự xúc phạm đến phẩm giá con người không?
Trong số 1 của Thông điệp Hòa bình cho Thế giới năm 1991, ĐGH Gioan Phaolô II nhấn mạnh: “Không một quyền lực trần thế nào có quyền xen vào vấn đề lương tâm của con người”. Như vậy, tước đoạt quyền tự do tôn giáo của cá nhân và cộng đoàn không chỉ là một kinh nghiệm đau thương, nhưng trên hết nó chà đạp phẩm giá của con người. Không nghi ngờ gì nữa, trong trường hợp này, chúng ta đang phải đương đầu với một cảnh bất công tận gốc rễ mà nó liên quan đến nội tâm con người. (cf. Redemptor Hominis, # 17)
- Chúng ta có trách nhiệm đòi hỏi và bảo vệ quyền tự do tôn giáo mà Thiên Chúa ban cho chúng ta không?
Thưa có. Số 1 của Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo của CĐ Vatican II xác quyết: “Sự đòi hỏi quyền tự do này trong xã hội nhân loại trước hết nhằm tới những sản nghiệp tinh thần con người và nhất là quyền tự do hành đạo trong xã hội… Thánh Công Ðồng còn tuyên bố rằng những bổn phận này liên quan đến lương tâm con người cũng như ràng buộc lương tâm con người, và chân lý tự nó có sức mạnh ép buộc chứ không dựa trên một uy quyền nào khác, sức mạnh ấy ăn sâu vào các tâm hồn một cách vừa êm dịu vừa mãnh liệt. Hơn nữa, vì tự do tôn giáo, sự tự do mà con người đòi hỏi trong khi thi hành nhiệm vụ phụng thờ Thiên Chúa, có nghĩa là không bị một áp bức nào trong xã hội dân sự ràng buộc, nên sự tự do đó bảo toàn được nguyên vẹn giáo lý truyền thông công giáo về bổn phận luân lý của con người cũng như của các đoàn thể đối với tôn giáo chân thật và Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô” (Dignitatis Humanae # 1).
- Tôn trọng quyền tự do tôn giáo có khả năng kiến tạo hòa bình không?
Thưa có. Vì quyền tự do tôn giáo, một phần tất yếu của phẩm giá con người, là nền tảng cho mọi cấu trúc căn bản của nhân quyền và là nhân tố không thể thay thế trong đời sống cá nhân và xã hội, nên việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo của mỗi cá nhân và cộng đoàn là một phần thiết yếu cho việc xây dựng hòa bình trong xã hội. Hơn nữa, hòa bình chân thật được cắm rễ từ sự tự do và sự mở rộng lương tâm đối với sự thật, nên hòa bình chỉ có thể được xây dựng và củng cố bằng sự hòa hợp giữa nhiều thành phần cộng đồng nhân loại với nhau. (cf. World Day of Peace Message, 1988, # 1)
Gia Đình (84 – 117)
- Hôn nhân mang ý nghĩa như thế nào?
Theo kế hoạch của Thiên Chúa, gia đình là nền tảng của cộng đồng nhân loại và là một tế bào thiết yếu của xã hội loài người. Vì thế hôn nhân mang hai ý nghĩa quan trọng như sau: Hôn nhân phục vụ lợi ích cho chính hai vợ chồng và thực hiện việc sinh sản con cái. (cf. GS 50)
- Hôn nhân mang lại những lợi ích gì cho đôi vợ chồng?
Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng của CĐ Vatican II số 48 dạy rằng: “Tự bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu lứa đôi qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp đỉnh diễm phúc của hôn nhân. Như thế, bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ “không còn là hai, nhưng là một xương thịt” (Mt 19,6), phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày mỗi đầy đủ hơn. Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly… Bởi đó, vợ chồng Kitô hữu được củng cố và như được thánh hiến bằng một bí tích riêng để được lãnh nhận các bổn phận và phẩm giá của bậc sống họ; nhờ sức mạnh của bí tích này, họ được thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô mà chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình của họ, nhờ đó tất cả đời sống của họ được thấm nhuần đức tin, cậy, mến, và càng ngày họ càng tiến gần hơn tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hóa lẫn nhau; và bởi đấy, cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa.
- Việc sinh sản đóng vai trò như thế nào trong việc tiếp nối công trình tạo dựng của Thiên Chúa ?
Khi một con người vừa mới chào đời, con người mới này không những mang trong mình hình ảnh của người cha và người mẹ mà còn mang hình ảnh của Thiên Chúa. Thực vậy, chính cha mẹ là người cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản một con người mới. Ở đây, không chỉ đề cập đến vấn đề sinh học, nhưng chúng ta xác quyết rằng: Thiên Chúa hiện diện trong tình mẫu tử và phụ tử một cách khác thường hơn là Ngài hiện diện trong các tạo vật khác. Quả thực, chỉ Thiên Chúa là nguồn sống của con người, nên chỉ có con người mới mang hình ảnh và giống như Ngài. Vì thế, sinh sản là sự tiếp nối công trình tạo dựng của Đấng Tạo Hóa (cf. Gratossimam Sane 43).
- Gia đình được xem là một tế bào của xã hội như thế nào?
Từ ban đầu khi tạo dựng muôn loài, Thiên Chúa đã thiết lập đời sống hôn nhân giữa người nam và người nữ, chính vì thế gia đình trở thành tế bào sống đầu tiên của xã hội. Mối giây liên kết giữa gia đình với xã hội mang tính hữu cơ và sống động. Vì thực ra, mỗi con người đều được sinh ra và giáo dưỡng từ gia đình. Chính từ nguyên tắc căn bản này mà xã hội được tồn tại và phát triển. (cf. Familiaris Consortio 42). Chính từ gia đình, con người lần đầu tiên được tiếp cận và nhận lãnh những giá trị chân, thiện, mỹ. Nhờ vậy, họ cũng nhận thức được ý nghĩa của những giá trị ấy trong đời sống xã hội.
- Mỗi gia đình có phải là một “tin mừng” cho toàn thế giới không?
Ngay từ buổi bình minh của công cuộc cứu độ, việc hạ sinh Hài Nhi đã mang lại niềm vui cho toàn nhân loại: “Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavid. Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lk 2: 10 -11). Niềm vui trọng đại này là việc hạ sinh Đấng Cứu Thế. Nhưng lễ Giáng sinh còn tỏ lộ cho ta thấy ý nghĩa trọn vẹn của mỗi cuộc hạ sinh con người. Vì cùng với niềm vui của việc giáng sinh Đấng Cứu Thế, tất cả mọi em bé chào đời trong thế giới này điều mang lại tin mừng cho mọi người (cf. Evangelium Vitae 1).
- Gia đình có được xem như là “cung thánh của sự sống” không?
Gia đình đóng vai trò quan trọng cho mỗi thành viên từ lúc sinh ra và lìa đời nên gia đình thực sự được gọi là “cung thánh của sự sống”. Nơi mỗi gia đình, sự sống là quà tặng của Thiên Chúa được đón nhận và bảo vệ một cách cẩn trọng khỏi nhiều mối hiểm nguy tấn công; và cũng chính từ gia đình, sự sống được lớn lên và trở thành một con người trưởng thành. Khi đương đầu với nền văn hóa sự chết, gia đình thực sự là tâm điểm của nền văn hóa sự sống. (cf. Centesimus Annus 39). Chính vì thế, gia đình – hội thánh tại gia, được kêu gọi thực hiện việc rao truyền và phục vụ Tin Mừng Sự Sống. Đây là trách nhiệm hàng đầu của mỗi gia đình. Vì được gọi là người trao ban sự sống, cha mẹ càng ý thức ý nghĩa của việc sinh sản như là hành động độc nhất biểu lộ sự sống con người và là quà tặng mà họ được đón nhận để rồi họ cũng cho đi như một món quà. Cha mẹ nên hiểu rằng, nguồn gốc phát sinh sự sống mới như là hoa quả tình yêu giữa hai người với nhau. Hoa trái này là món quà dành cho cả hai, và cũng chính từ hai người mà món quà này được xuất hiện. (cf. John Paul II, Bài diễn văn tại Hội nghị các Giám mục Châu Âu lần thứ bảy 1989, 5).
- Ai là người có trách nhiệm về “quyền sự sống”?
Sự sống con người là linh thiêng, bất khả xâm phạm. Vì sự sống con người được bắt nguồn từ chính hành động sáng tạo của Thiên Chúa và nó vẫn luôn duy trì mối liên kết đặc biệt với Đấng Tạo Dựng, Đấng làm chủ vận mệnh của nó. Vì thế, chỉ có Thiên Chúa là chủ của sự sống từ ban đầu cho đến kết thúc. Không một con người nào, dù trong bất cứ hoàn cảnh trực tiếp hay gián tiếp, lại tự cho mình quyền để hủy diệt sự sống. Từ “Donum Vitae”- quà tặng sự sống là trung tâm mầu nhiệm mạc khải về tính bất khả xâm phạm và linh thiêng của sự sống con người. (cf. Evangelium Vitae 53). Chính vì điều đó, nếu “quyền sự sống” – quyền căn bản và nền tảng nhất cho mọi quyền con người – không được bảo vệ với một quyết tâm tối đa thì những việc đòi hỏi tôn trọng các quyền khác như y tế, nhà ở, việc làm, gia đình, văn hóa sẽ chỉ là giả dối và hão huyền (Cf. Christifideles Laici 38).
- HTXH đề cập đến vần đề phá thai và “cái chết êm dịu” như thế nào?
Trong mọi trường hợp, không một ai được phép giết người vô tội, dù họ mới chỉ là một phôi thai hoặc là bào thai, còn sơ sinh hay đã trưởng thành, già lão hay mắc bệnh nan y, hoặc trong tình trạng sắp chết. Và đặc biệt hơn nữa, không ai được phép yêu cầu cho hành động giết người này. Dù sự yêu cầu này được xuất phát từ chính đương sự, người đang chăm sóc đương sự, hoặc đương sự đồng tình cho thực hiện hành động giết người này một cách rõ ràng hay ngụ ý. Cũng vậy, không một chánh quyền nào có thẩm quyền đề nghị hay cho phép thực hiện hành động như vậy (cf. Iura et Bona 2). “Vì thế, với thẩm quyền mà Chúa Kitô ban cho Phêrô và các Đấng kế vị của Ngài, cùng hợp với Giám Mục Đoàn của Giáo hội Công giáo. Tôi xác nhận rằng, hành động trực tiếp và có chủ ý giết người vô tội là luôn luôn trọng tội” (Evangelium Vitae 57).
- HTXH đề cập đến vai trò người phụ nữ như thế nào?
Theo ĐGH Phaolô II, đời sống thường nhật của người phụ nữ được xem như là những nữ anh hùng trong gia đình khi họ là “những người mẹ can đảm tận tụy với gia đình không một chút tính toán cho bản thân. Họ chịu đau đớn khi sinh con và dồn mọi nỗ lực dù phải hy sinh mọi giá để trao ban những gì là quí giá nhất của bản thân mình cho con cái” Trong khi thực hiện sứ mạng này, “thế giới xung quanh họ không phải lúc nào cũng ủng hộ sứ mạng của họ. Ngược lại, giới truyền thông thường xuyên trình bày một kiểu thức văn hóa khuyến khích người nữ không thực hiện chức năng làm mẹ. Trong khi những giá trị như chung thủy, khiết tịnh, hy sinh mà những người vợ và mẹ Kitô hữu đang sống và tiếp tục làm chứng, thì có những người nại vào cuộc sống hiện đại lại cho rằng những giá trị này là lỗi thời… Chúng ta cám ơn những người mẹ anh hùng về tình yêu bất diệt của họ. Chúng ta cám ơn lòng can đảm tín thác của các bà mẹ vào Thiên Chúa và tình yêu của Ngài. Chúng ta cám ơn về sự hy sinh của các người mẹ” (John Paul II, Bài giảng trong lễ phong thánh năm 1994).
- Người nữ đóng vai trò gì trong mối liên hệ giữa người với người?
Tình mẫu tử có một mối liên hệ mật thiết đến mầu nhiệm sự sống khi sự sống phát triển trong lòng người mẹ. Mối liên hệ độc đáo giữa người mẹ với sự sống mới đang phát triển trong cung lòng của người mẹ mang một dấu ấn rất sâu đậm của nhân vị người nữ. Mối liên hệ này không chỉ hướng đến người con mà bà đang cưu mang nhưng còn hướng đến tất cả mọi người khác. Người mẹ đón nhận và cưu mang một con người trong chính thân thể của mình, dành chỗ và giúp nhân vị này lớn lên, tôn trọng con người mới này như một con người. Vì thế, người phụ nữ học và dạy người khác mối quan hệ thực thụ giữa người với người khi họ biết đón nhận những người khác như một con người. Con người được nhìn nhận và yêu thương là vì phẩm giá con người chứ không phải vì những đặc điểm như hữu dụng, thông minh, sắc đẹp hay sức khỏe. Đây là sự đóng góp căn bản mà Giáo hội cũng như loài người mong đợi từ người nữ. (cf. Evangelium Vitae, 99).
Trật Tự Xã Hội (118 – 177)
- Giáo huấn HTXH đề cập đến trật tự xã hội như thế nào?
Điểm then chốt của giáo huấn về trật tự xã hội được hiểu như sau: “Mỗi cá nhân con người chính là nền tảng, nguyên nhân và cùng đích của mọi hình thức thể chế xã hội” (Mater et Magistra # 219). Trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội cũng vậy, phẩm giá và ơn gọi của mỗi con người cũng như tất cả phúc lợi xã hội cần được tôn trọng và phát triển. Vì con người là nguồn gốc, trung tâm và mục đích của mọi hình thức đời sống kinh tế xã hội. Vì vậy, nền tảng và mục đích của trật tự xã hội chính là con người. Con người như là một chủ thể của tất cả các quyền mà không ai có thể tước đoạt hay ban tặng, vì những quyền này được gắn chặt với bản chất của mỗi cá nhân con người. “Không một quyền lực loài người nào có thể bóp nghẹt sự nhận thức con người là một nhân vị” (cf. World Day of Peace Message, 1988, # 1).
- Dựa vào tính chất nào để xây dựng nền tảng xã hội?
“Một xã hội dân sự được xem là ổn định, trật tự, phúc lợi và tôn trọng phẩm giá con người, nếu xã hội đó được xây dựng trên sự thật. Như Tông đồ Phaolô cổ vũ: “Bởi thế, mỗi khi đã cởi bỏ sự gian dối, mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người thân cận, vì chúng ta là phần thân thể của nhau” (Eph 4:25). Điều này sẽ thành tựu khi mỗi người nhận thức đầy đủ về quyền và bổn phận của họ và của người khác” (Pacem in Terris, # 35).
- Bằng cách nào để xây dựng một xã hội hiệp nhất?
Để xây dựng một xã hội hiệp nhất, ĐGH Gioan Phaolô II dạy rằng: “Trong tinh thần hiệp nhất và với khí cụ đối thoại, chúng ta cần nhận thức rằng: tôn trọng nhân vị nhau; tôn trọng những giá trị và văn hóa của người khác; tôn trọng quyền tự trị và tự quyết của người khác; có tầm nhìn vượt ra khỏi chính mình để hiểu và ủng hộ những phẩm chất tốt đẹp nơi những người khác; góp phần của chính mình trong tính hiệp nhất xã hội nhằm phát triển ý thức công bình; xây dựng một cấu trúc bảo đảm rằng tính hiệp nhất xã hội và đối thoại là hai đặc tính bất biến của thế giới loài người chúng ta” (World Day of Peace Message, 1986, # 5).
- Chúng ta cần sống tính hiệp nhất trong xã hội ra sao?
Việc thực thi sự hiệp nhất trong mỗi xã hội là có cơ sở nếu mỗi thành viên trong xã hội nhìn nhận nhau như những nhân vị. Đối với những ai có sự ảnh hưởng của mình trên những người khác, bởi vì họ có khả năng chia sẻ điều kiện vật chất và dịch vụ công ích nhiều hơn, thì họ cũng có trách nhiệm đối với những người nghèo yếu và sẵn sàng chia sẻ với người này những khả năng mình đang có. Về phần những người nghèo yếu, vì cùng mang một tinh thần hiệp nhất, họ không nên sống trong thái độ thụ động; dù đang khi đòi hỏi những quyền cơ bản, họ cũng nên thực thi những điều tốt đẹp vì mục đích chung. Đối với những người thuộc nhóm trung bình, họ không nên chỉ lo cho bản thân mình bằng một đời sống ích kỷ, nhưng cũng cần quan tâm những lợi ích cho người khác nữa (cf. Sollicitudo Rei Socialis, # 39).
- Làm thế nào để vượt qua thành kiến cá nhân nhằm xây dựng một thế giới hiệp nhất?
Để vượt qua thành kiến cá nhân đang lan rộng trong thế giới hôm nay, điều chúng ta cần lưu lý là phải có một quyết tâm cụ thể thực hiện sự hiệp nhất và bác ái. Trước hết, điều này bắt nguồn từ trong gia đình qua sự giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng và các thế hệ tiếp sau. Với ý nghĩa này, chúng ta gọi gia đình là cộng đoàn nơi việc làm và sự hiệp nhất được thể hiện (cf. Centesimus Annus, # 49). Bên cận đó, để tiến tới sự hiệp nhất, chúng ta không nên nhìn người khác, dân tộc khác hay quốc gia khác như là những công cụ có khả năng làm việc nhằm cho phép chúng ta khai thác và tận dụng với giá thấp sau đó lại bỏ đi. Nhưng chúng ta cần nhìn họ như là người anh em của chúng ta, người giúp đỡ chúng ta, người cùng chia sẻ với chúng ta trong bàn tiệc cuộc đời một cách ngang bằng như nhau mà mỗi người đều được Thiên Chúa mời gọi (cf. Sollicitudo Rei Socialis, # 39).
- Nguyên tắc bổ trợ là gì?
HTXH của Giáo hội rất chú trọng đến nguyên tắc bổ trợ này. Theo đó, ““một tập thể cấp cao không được can thiệp vào nội bộ tập thể cấp thấp đến độ tước mất các thẩm quyền của nó, nhưng đúng hơn phải nâng đỡ nó khi cần thiết, và giúp nó phối hợp hoạt động với những tập thể khác, để mưu cầu ích chung” (x. CA 48 – Pio XI). Thiên Chúa không muốn dành cho riêng mình việc thực thi mọi quyền hành. Người trao lại cho mỗi thụ tạo những phận vụ nó có thể thi hành theo khả năng của bản tính riêng. Xã hội loài người phải bắt chước cách lãnh đạo này. Cách Thiên Chúa cai trị thế giới cho thấy Người rất tôn trọng quyền tự do của con Người. Đó là đường hướng chỉ đạo cho những ai cầm quyền trong các cộng đồng nhân loại. Họ phải xử sự như những thừa tác viên của Chúa quan phòng. Nguyên tắc bổ trợ nghịch với mọi hình thức duy tập thể, xác định giới hạn cho việc can thiệp của nhà nước, hòa hợp các mối tương quan giữa cá nhân và xã hội, hướng tới việc thiết lập một trật tự quốc tế đích thực” (GLCG 1883 – 1885).
- Giáo hội có nhắc nhở con cái mình về ý thức tham gia vào các vấn đề xã hội không?
Thưa có, trong số 6 của Thông Điệp Hòa Bình cho Thế Giới năm 1999, ĐGH Phaolô II dạy rằng: Ngày nay, mọi người đều thừa nhận rằng, mọi công dân có quyền tham gia vào đời sống cộng đồng của họ. Nhưng quyền này sẽ thành vô nghĩa khi tiến trình dân chủ bị phá vỡ do bởi sự tham nhũng và thiên vị; điều này không chỉ ngăn cản việc chia sẻ quyền hành một cách hợp pháp mà còn ngăn chặn người dân không được hưởng những phúc lợi từ nguồn tài sản và dịch vụ chung của cộng đồng mà lẽ ra ai ai cũng có quyền được hưởng.