Hơn nữa, chúng ta cũng cần nhắc lại nơi đây đặc tính căn bản của HTXH của Giáo hội: Từ khởi nguồn, của cải vật chất trong thế giới này chỉ là phương tiện cho mọi người. Quyền sở hữu tài sản cá nhân là cần thiết và hợp lý, nhưng nó không thể hủy bỏ nguyên tắc căn bản này được. Thực ra, tài sản cá nhân chỉ là “vật thế chấp xã hội”. Nghĩa là, tự bản chất tài sản có một chức năng xã hội được thiết lập và hợp thức hóa bởi nguyên lý vận mệnh chung của tài sản (cf. Sollicitudo Rei Socialis, # 42). Đọc thêm GLCG 2402-2406
- Lao động nói lên ý nghĩa hiệp nhất giữa con người như thế nào?
Khi làm việc, con người cam kết không chỉ làm việc cho chính bản thân nhưng còn làm cho người khác và với người khác. Vì thế, mỗi người cộng tác làm việc với người khác và mưu cầu lợi ích cho họ. Quả thực, con người làm việc là để cung cấp những nhu cầu cần thiết cho gia đình, cho cộng đồng, cho quốc gia và cuối cùng là cho toàn thể loài người (cf. Laborem Exercens, # 10). Trong khi làm việc, con người cộng tác với những đồng nghiệp, những người cung cấp vật liệu và cũng với những khách hàng mua sản phẩm. Như thế, tính hiệp nhất được thể hiện rất rõ khi tất cả cùng làm việc trong một hệ thống dây chuyền sản xuất (cf. Centesimus Annus, # 43).
- HTXH nói gì về hai hệ thống kinh tế “chủ nghĩa cộng sản” và “chủ nghĩa tư bản”?
Giáo lý Công giáo dạy rõ rằng: “Hội Thánh phi bác các ý thức hệ chuyên chế vô thần đang hoạt động dưới hình thức “chủ nghĩa cộng sản” hoặc “chủ nghĩa xã hội”. Mặt khác, Hội Thánh cũng phi bác chủ nghĩa cá nhân và việc coi luật thi trường là qui luật tối thượng trên sức lao động của con người, trong cách thực hành “chủ nghĩa tư bản” (x. CA 10; 13;44). Điều hành kinh tế chỉ dựa trên kế hoạch tập trung sẽ phá hủy tận gốc các mối liên hệ xã hội; điều hành chỉ dựa theo qui luật thị trường sẽ vi phạm công bằng xã hội. “Thị trường sẽ không thể thỏa mãn được những nhu cầu muôn mặt của con người” (CA 34). Người tín hữu phải tác động vào thị trường và các sáng kiến kinh tế, để có được một sự điều hành hợp lý dựa trên một bậc thang giá trị đúng đắn và vì công ích” (GLCG 2425).
- Ngày nay, hệ thống kinh tế chủ nghĩa tư bản có phải là khuôn mẫu cho sự phát triền xã hội không?
Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, câu hỏi được đặt ra là có nên thừa nhận hay không chủ nghĩa tư bản là khuôn mẫu để xây dựng kinh tế và xã hội của một đất nước? Thực ra, câu trả lời sẽ không dễ dàng đơn giản. Trước hết, nếu chủ nghĩa tư bản mang nghĩa là một hệ thống kinh tế có khả năng nhận thức được vai trò tích cực và nền tảng của thương mại, thị trường, tài sản cá nhân cũng như là sự tự do sáng kiến trong lãnh vực kinh tế thì câu trả lời cho câu hỏi trên là khẳng định chắc chắn “nên”. Nhưng nếu nó mang nghĩa là một hệ thống, trong đó sự tự do trong phạm vi kinh tế không có một khung pháp lý nào ràng buộc nó; mà thực ra pháp lý là nhằm để phục vụ cho sự tự do của con người thì câu trả lời cho câu hỏi trên là “không nên” (cf. Centesimus Annus, # 42).
- Mục đích tối hậu của sự phát triển kinh tế là gì?
Mục đích tối hậu của mọi hình thức phát triển là vì và cho con người. Thực vậy, “phát triển kinh tế và gia tăng sản xuất đều nhằm phục vụ những nhu cầu của con người. Đời sống kinh tế không chỉ nhằm vào việc gia tăng các sản phẩm, lợi nhuận hoặc quyền lực, nhưng trước tiên là để phục vụ con người: con người toàn diện và toàn thể cộng đồng nhân loại. Hoạt động kinh tế được điều hành theo những phương pháp riêng nhưng phải tôn trọng các khuôn khổ luân lý và công bằng xã hội, để đám ứng ý định của Thiên Chúa về con người” (GLCG # 2426).
- Điểm tích cực của nền kinh tế hiện đại là gì?
Nền kinh tế thương mại hiện đại đã phản ảnh một số điểm tích cực. Trước hết, điểm căn bản chính là quyền tự do con người được thể hiện trong lãnh vực kinh tế cũng như trong các lãnh vực khác. Hoạt động kinh tế thực ra cũng chỉ là một lãnh vực trong nhiều lãnh vực hoạt động của con người. Vì thế, cũng như tất cả các lĩnh vực khác, kinh tế cũng cần có quyền tự do và trách nhiệm đối với quyền tự do ấy. Nhưng điểm đặc biệt nổi bật trong xã hội hiện đại so với xã hội cũ chính là: Có một thời người ta cho rằng yếu tố quyết định đến việc sản xuất chính là đất đai và tiền vốn; cả hai được coi là công cụ tổng hợp phức tạp cho việc sản xuất. Nhưng hôm nay, yếu tố quyết định là chính con người. Nghĩa là kiến thức, đặc biệt là kiến thức khoa học, khả năng liên đới và hợp đồng với các tổ chức, và cũng như là khả năng nhận thức nhu cầu của người khác và tìm cách thỏa mãn nhu cầu của họ. Đó chính là những điểm tích cực trong nền kinh tế hiện đại (cf. Centesimus Annus, # 32).
- HTXH đề cập đến “công bằng” như thế nào?
Công bằng ở đây không chỉ mang ý nghĩa là phân phối của cải, nhưng nó liên quan đến điều kiện mà con người tham gia vào hoạt động sản xuất. Thực vậy, nhu cầu bẩm sinh đòi hỏi con người tham gia vào các hoạt động sản xuất và có cơ hội gánh vác trách nhiệm và nhờ nỗ lực của chính bản thân họ hoàn thiện chính họ.
Kết quả là, nếu một tổ chức hay cấu trúc đời sống kinh tế mà làm cho phẩm giá con người lao động bị tổn thương, hoặc ý thức trách nhiệm của họ bị giảm sút, hoặc là sự tự do của họ bị tước đoạt, thì chúng ta có thể đánh giá rằng trật tự của nền kinh tế ấy là không công bằng; thậm chí là dù nó có sản xuất ra hàng vạn sản phẩm được phân phối hợp với tiêu chuẩn công bằng và hợp pháp [thì nó cũng không công bằng] (cf. Mater et Magistra, # 82, 83).
- Giáo hội kêu gọi lương tâm con người trong vấn đề này như thế nào?
Trong Thông Điệp Hòa Bình Thế Giới năm 2000, ĐGH Gioan Phaolô II kêu gọi: “Tôi mời gọi tất cả các nhà kinh tế và các chuyên gia tài chánh cũng như các giới chức lãnh đạo cần nhận ra nhu cầu khẩn thiết để bảo đảm rằng việc thực thi chính sách kinh tế và chính trị phải hướng đến mục đích tốt đẹp cho từng người và mọi người. Đây không chỉ là sự đòi buộc đạo đức nhưng còn là sự đòi buộc cho một nền kinh tế hoàn chỉnh. Kinh nghiệm dường như khẳng định rằng nền kinh tế thành công ngày càng đòi hỏi vào việc đánh giá chân thực của mỗi cá nhân và khả năng của họ, vào sự tham gia đầy đủ hơn của họ, vào sự gia tăng hiểu biết và bổ túc kiến thức thông tin, và vào tính hiệp nhất chặt chẽ hơn” (World Day of Peace Message, 2000, # 16).
- Trách nhiệm của nhà nước trong việc duy trì trật tự kinh tế như thế nào?
Một trong những nhiệm vụ của nhà nước đó là giám sát và hướng dẫn việc thực thi nhân quyền trong lãnh vực kinh tế. Nhà nước có bổn phận duy trì sự ổn định cho các hoạt động kinh doanh bằng cách tạo điều kiện để bảo đảm cơ hội nghề nghiệp cho người dân, đặc biệt trong những điều kiện khủng hoảng. Xa hơn, nhà nước có quyền can thiệp khi sự độc quyền làm cản trở hay chậm lại sự phát triển. Trong một vài trường hợp ngoại lệ, nhà nước có thể thực hiện chức năng thay thế khi một bộ phận kinh tế bị lũng đoạn. Những biện pháp can thiệp hỗ trợ này chỉ nên thực hiện trong những trường hợp khẩn thiết và nhằm phúc lợi cho công ích, nên tránh việc can thiệp quá đà vào các lãnh vực đã ổn định; điều này làm tổn hại cả cho kinh tế và quyền tự do của công dân. (cf. Centesimus Annus, # 48).
- Nhà nước cần áp dụng nguyên tắc nào khi can thiệp vào lãnh vực kinh tế?
Khi can thiệp vào các lãnh vực xã hội nói chung và kinh tế nói riêng, theo ĐGH Piô XI, nguyên tắc bổ trợ được xem là nguyên tắc căn bản được áp dụng. Tức là “một tập thể cấp cao không được can thiệp vào nội bộ tập thể cấp thấp đến độ tước mất các thẩm quyền của nó, nhưng đúng hơn phải nâng đỡ nó khi cần thiết, và giúp nó phối hợp hoạt động với những tập thể khác, để mưu cầu ích chung” (x. CA 48 – Pio XI). Như vậy, sự can thiệp quá mức sẽ đe dọa đến sáng kiến và tự do cá nhân. Vì các hoạt động xã hội theo bản chất tự nhiên là giúp đỡ các thành viên của nó, không bao giờ hủy diệt nó hay làm cho nó bị sát nhập.
- Người ta có lợi dụng khả năng làm việc để hạ phẩm giá của nhau không?
Thật đáng buồn khi đức tính cao đẹp của con người bị lợi dụng cho việc này. Thật vậy, chăm chỉ làm việc là một đức tính tốt nhờ đó khi chăm chỉ làm việc con người sẽ trở nên con người tốt hơn. Nhưng có những nơi người ta dùng công việc như là những phương cách nhằm hạ thấp phẩm giá con người. Đặc biệt trong các trại cải tạo tập trung nơi mà người ta sử dụng sức lao động như là một hình phạt để bóc lột sức lao động con người. Việc hạ thấp phẩm giá này không chỉ nhắm tới việc làm hao mào thể chất của người lao động, nhưng xa hơn nữa, nó gây tổn hại đến phẩm giá của người lao động như là một con người chủ thể (cf. Laborem Exercens, # 9).
- HTXH khuyến khích quyền sáng kiến kinh tế ra sao?
“Mỗi người có quyền sáng kiến trong sinh hoạt kinh tế, sử dụng chính đáng tài năng của mình để góp phần làm ra nhiều của cải cho mọi người được hưởng, và gặt hái những hiệu quả chính đáng do các nỗ lực của mình. Họ phải để tâm tuân theo các qui định do chính quyền hợp pháp đề ra vì công ích” (GLCG # 2429).
Thật đáng quan tâm khi thế giới ngày nay có những nơi quyền sáng kiến trong sinh hoạt kinh tế cũng bị cấm đoán. Quyền này không chỉ quan trọng cho mỗi cá nhân nhưng còn quan trọng cho lãnh vực công ích. Kinh nghiệm cho thấy, nhân danh “bình đẳng” để giới hạn hay tước đoạt quyền này, trong thực tế là đã hủy diệt tinh thần sáng kiến của chủ thể công dân. Và kết quả là, nó không mang lại sự “bình đẳng” thật sự mà còn đào thêm hố sâu ngăn cách giữa con người với nhau (cf. Sollicitudo Rei Socialis, # 15).
- HTXH nói đến “chủ nghĩa tiêu thụ” như thế nào?
Sự phát triển thái quá đến mức thừa mứa của cải vật chất của một số bộ phận trong xã hội đã làm cho người ta dễ dàng trở nên nộ lệ cho những của cải ấy. Nền văn minh “tiêu thụ” hay “chủ nghĩa tiêu thụ” nghĩa là liên quan đến khái niệm “ném đi” hay “bỏ đi”. Nhưng cần hiểu rằng, khi ta sở hữu một tài sản, tài sản ấy chỉ có giá trị khi nó giúp người chủ sở hữu trưởng thành và làm cho mình phong phú hơn. Nhưng ngược lại, nếu tài sản ấy không đóng góp vào việc giúp nhận thức ơn gọi làm người, thì chúng sẽ không mang giá trị hữu ích gì cả. (cf. Sollicitudo Rei Socialis, # 28).
Thực ra, sẽ không có gì sai trái khi chúng ta muốn có một đời sống tốt hơn, nhưng sẽ sai khi người ta quan niệm một đời sống chỉ nhắm đến việc chiếm hữu; muốn có nhiều hơn để nhằm hưởng thụ và coi nó như là cùng đích thay vì nhìn nhận đời sống như nó là (cf. Centesimus Annus, # 36).
Công Việc và Tiền Lương (251- 286)
- Kinh Thánh nói đến bản chất lao động như thế nào?
Trang đầu Kinh Thánh đã nói đến lao động như là chiều kích nền tảng cho sự tồn tại của con người trên mặt đất. Phân tích kỹ những văn bản này, chúng ta thấy những văn bản này diễn tả những chân lý căn bản về con người trong mầu nhiệm sáng tạo. Những chân lý này mang tính quyết định cho con người ngay từ ban đầu. Thật vậy, vốn mang hình ảnh của Thiên Chúa, con người thông dự vào quyền của Đấng Tạo Hóa để chinh phục và cai quản mặt đất. Khi thi hành phận vụ này, con người đã phản ảnh trung thực hành động sáng tạo của Đấng Tạo Hóa (cf. Laborem Exercens, # 4).
- Vai trò của người lao động trong thế giới hôm nay ra sao?
Trong thế giới hôm nay, người lao động ngày càng đóng vai trò quan trọng và trở thành như là nhân tố sản xuất cho cả hai lãnh vực: vật chất và phi vật chất. Và hơn nữa, vai trò này cho thấy bản chất liên đới trong công việc giữa con người với nhau cũng rõ ràng hơn. Hơn lúc nào hết, con người ngày càng nhận thức sự thật rằng: “Làm việc là làm với người khác và cho người khác” (cf. Centesimus Annus, # 31).
- Lao động có ý nghĩa như thế nào trong ơn gọi làm người?
Trước hết, theo kế hoạch của Thiên Chúa, ngay từ đầu tiên con người được kêu gọi để hoàn thiện chính mình; đó là ơn gọi cho mọi người. Với lý trí và sự tự do, con người có trách nhiệm để hoàn thành sứ mạng này (Cf. Populorum Progressio, # 15). Theo GLCG, “Khi lao động, con người biểu dương các ân huệ của Ðấng Sáng Tạo và những tài năng Chúa ban. Lao động còn có giá trị cứu chuộc (x. St 3,14-19). Khi kết hợp với Ðức Giê-su, người thợ làng Na-da-rét và cũng là Ðấng chịu đóng đinh trên Ðồi Sọ, con người qua những vất vả lao động được cộng tác với Con Thiên Chúa trong công trình cứu độ” (GLCG 2427). Cuối cùng, con người phải làm việc vì đó là lệnh truyền từ Đấng Sáo Tạo. Con người phải làm việc nhằm không phải vì chỉ cho chính mình, nhưng còn nhằn phục vụ cho đồng loại, gia đình, quốc gia và xã hội mà mình đang sống (cf. Laborem Exercens, # 16).
- Nguyên tắc nào cần được áp dụng trong việc thanh toán tiền lương?
Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của người làm chủ là phải chi trả công bằng cho người lao động. Để thực hiện việc này một cách công bằng, chúng ta cần xem xét nhiều yếu tố. Tuy nhiên cách chung mà nói, người chủ phải luôn nhớ rằng không có bất cứ một luật lệ nào, dù là luật con người hay tôn giáo cho phép họ được quyền lợi dụng người khác để tích trữ lợi nhuận cho riêng mình (cf. Rerum Novarum, # 20). Người thợ phải được chi trả một cách tuơng xứng nhằm đủ khả năng nuôi sống bản thân và gia đình. Bên cạnh tiền lương, người thợ còn đáng được hưởng những khoản trợ cấp tương xứng khác như chăm sóc y tế, nghỉ ngơi, du lịch và tiền hưu. Những quyền căn bản này sẽ tạo một mối liên hệ đúng đắn giữa người chủ và thợ và như thế cả hai sẽ được đền đáp một cách tương xứng (cf. Laborem Exercens, # 19).
- HTXH đề cập đến điều kiện công xưởng như thế nào?
Công xưởng là nơi dễ dàng xuất hiện những tác động tiêu cực như tiền, quyền lực, thú vui, và sự ích kỷ. Tuy nhiên, công xưởng cũng là nơi phản triển ý thức nghề nghiệp, trách nhiệm và lòng vị tha với người khác. Ở nơi nào công xưởng được tổ chức có tính cách khoa học hơn, thì ở nơi đó mối nguy hại làm mất phẩm giá cho những người thợ được giảm thiểu. (cf. Populorum Progressio, # 28). Hơn nữa, vì công xưởng phải là nơi bảo vệ nhân phẩm của con người, nên không được phép xem những những người thợ như là những người phải cúi đầu thi hành mệnh lệnh như một đầy tớ, nhưng cần phải tôn trọng ý kiến cá nhân cũng như những nhiệm vụ họ được chỉ định.
Cuối cùng, cũng chính nơi tại công xưởng, người thợ cần có thời gian nghỉ ngơi phù hợp và được quyền nói lên chính kiến của mình mà không bị khinh thường. Thật vậy, công xưởng không chỉ là nơi trao đổi thương mại, nhưng phải là nơi người thợ được thể hiện chính mình. Nơi ấy, họ giúp phát triển văn hóa nghề nghiệp và cùng chia sẻ đời sống với người khác một cách thực thụ (cf. Centesimus Annus, # 15).
- Giáo hội đề cao vai trò người nữ lao động tại gia như thế nào?
Giáo hội không ngừng kêu gọi thế giới nhìn nhận và tôn trọng vai trò và giá trị công việc của người nữ tại gia đình. Về lãnh vực này, ngành giáo dục cần phải nêu rõ để tránh sự kỳ thị giữa các loại hình công việc. Vì thực ra, mọi công việc đều được hưởng quyền và trách nhiệm. Trong khi nhìn nhận quyền bình đẳng giữa người nam và nữ trong mọi lãnh vực công cộng, xã hội cần nhận thức rằng, những người làm vợ và làm mẹ không chỉ có thể tìm thấy phẩm giá của mình khi họ phải làm việc ngoài xã hội, nhưng thực ra, những công việc tại gia cũng nêu bật phẩm giá của họ, dù họ phải dành toàn bộ thời gian để chăm sóc cho gia đình (cf. Familiaris Consortio, # 23).
- Con người có “quyền được làm việc” không?
Theo GLCG số 2433, “Mọi người phải được quyền làm việc và chọn nghề, không bị kỳ thị bất công, nam hay nữ, người khỏe mạnh hay tàn tật, người địa phương hay người nơi khác (x. LE 19,22-23). Tùy hoàn cảnh xã hội phải giúp đỡ để các công dân có công ăn việc làm” (x. CA 48). Quả vậy, một trong những quyền căn bản của con người đó là con người có quyền được làm việc, vì thực ra công việc giúp con người hoàn thiện chính bản thân và góp phần xây dựng thế giới một cách cụ thể. Vì thế, được làm việc cũng là một quyền căn bản của con người.
- Thành lập hiệp đoàn lao động có phải là quyền không?
Trong những quyền của người lao động, họ có quyền bảo vệ chính mình; chính quyền này tạo tiền đề cho việc hình thành các hiệp đoàn tại các công xưởng. Các hiệp đoàn lao động được hình thành nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho nhau dưới một tổ chức. Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng xác nhận, “Giữa những quyền lợi căn bản của con người, đối với công nhân, cần phải kể đến quyền được tự do lập những hiệp hội để có thể thực sự đại diện cho họ và góp phần vào việc tổ chức đời sống kinh tế một cách tốt đẹp” (Gaudium et Spes, # 68).
- Vai trò của các hiệp đoàn lao động như thế nào?
HTXH nhấn mạnh đến vai trò các hiệp đoàn này như là những phương tiện hữu hiệu nhất để đòi hỏi những quyền lợi nhằm phục vụ cho mọi phần tử của tập thể, để nhờ đó mỗi cá nhân có cơ hội tốt hơn để chăm sóc cho thể chất, tinh thần cũng như bảo đảm điều kiện vật chất. Tuy nhiên, cần nên nhớ rằng, các hiệp đoàn cần phải nhắm tới sự hoàn thiện tôn giáo và luân lý như là mục đích nền tảng cho kế hoạch hoạt động (cf. Quadragesimo Anno, # 31, 32).
- HTXH đề cập đến vấn đề đình công của người công nhân như thế nào?
Đình công là một quyền chính đáng của người thợ. Thực vậy, “trong hoàn cảnh hiện tại, đình công, dầu là một phương tiện cuối cùng, song vẫn là phương tiện cần thiết để bênh vực những quyền lợi riêng và thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng của công nhân” (Gaudium et Spes, # 68). Sách GLCG cũng nhấn mạnh điểm nay khi nói rằng, “Về mặt luân lý, đình công là việc chính đáng, khi đó là một phương thế không tránh được hoặc cần thiết, để đạt được lợi ích tương xứng. Ðình công không thể chấp nhận được về mặt luân lý, khi kèm theo bạo động hoặc khi chỉ được dùng nhằm những mục tiêu không trực tiếp liên hệ đến các điều kiện làm việc hay trái nghịch với công ích” (GLCG 2435). Vậy khi đình công xảy ra, vấn đề lắng nghe và đối thoại trong sự tôn trọng giữa những tổ chức liên hệ là điều kiện cần thiết để giải tỏa cuộc tranh chấp càng sớm càng tốt.
Nạn Nghèo Đói và Lòng Từ Thiện (287-310)
- Tình trạng nghèo đói trong thế giới loài người hôm nay ra sao?
Không cần phải phân tích những con số thống kê về tỉ lệ nghèo đói, thực tế cho thấy vô số nạn nhân gồm nhiều thành phần từ trẻ em, người trưởng thành đến người già yếu đều đang sống trong tình trạng đói nghèo. Nói cách khác, rất nhiều nhân vị đang gánh chịu sự nghèo đói một cách bất công. Mỗi ngày nhiều nơi trên thế giới hàng triệu con người đang sống trong tuyệt vọng; khốn thay, tình trạng này mỗi ngày một xấu đi. Nhìn vào bức tranh ảm đạm này, chúng ta thấy hàng triệu con người hàng ngày không có đủ thức ăn, nước uống, nhà cửa, y tế, việc làm (cf. Sollicitudo Rei Socialis, #13 &14). Thật đáng buồn, bức tranh nghèo đói này là có thật và đang tiếp tục diễn ra hàng ngày trong thế giới văn minh của loài người chúng ta.
- Giáo hội bênh vực phẩm giá cho những người nghèo như thế nào?
Giáo hội nhận thức và dạy cho con cái mình rằng: Những người nghèo đói không phải là những người bị mất ân sủng trước mặt Thiên Chúa; vì thực ra, không ai hổ thẹn vì phải tần tảo để nuôi sống cho bản thân mình. Thực vậy, Đức Giêsu vốn là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã chấp nhận làm người con của bác thợ mộc và lao động hằng ngày để mưu sinh. Như thế, khi chiêm niệm Gương Thánh này, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng: phẩm giá đích thực nơi con người ẩn chứa trong đời sống luân lý, đức hạnh [chứ không phải ở địa vị hay chức quyền]. Như thế, người nghèo khổ hay giàu sang đều có khả năng như nhau để đạt được cuộc sống đức hạnh, và phần thưởng hạnh phúc vĩnh cửu sẽ dành cho những ai thực hành đời sống đạo đức ấy. Hơn thế nữa, Đức Giêsu luôn luôn ôm vào lòng những người nghèo khổ và bị ngược đãi với một lòng thương xót đặc biệt. Ngài gọi những người nghèo là những người được chúc phúc; đồng thời Ngài cũng mời gọi những ai nghèo khổ bất hạnh hãy đến với Ngài để tìm sự an ủi nghỉ ngơi (cf. Rerum Novarum, # 23–24).
- Theo tin thần HTXH, chúng ta nên hiểu nghèo đói trong thế giới đương đại theo những ý nghĩa nào?
Theo thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, ngoài sự nghèo đói về thể chất, thế giới hôm này đang trải qua những nạn đói nguy hiểm khác. Cụ thể, đó là sự tước đoạt hay giới hạn quyền của con người: như quyền tự do tôn giáo, quyền tham gia chia sẻ trách nhiệm xây dựng xã hội, quyền tự do thành lập các hiệp hội tổ chức cũng như quyền phát kiến trong các lãnh vực kinh tế. Tước đoạt hay giới hạn những quyền này phải chăng đó là một hình thức tồi tệ hơn sự tước đoạt tài sản vật chất (cf. Sollicitudo Rei Socialis #15)? Thực vậy, phần lớn con người trong xã hội hôm nay không tìm thấy phẩm giá của họ trong những nơi làm việc. Như thế, nếu họ không bị bóc lột thì họ cũng bị xô đẩy ra bên lề xã hội. Bên cạnh đó rất nhiều nạn nhân khác hàng ngày vẫn tranh đấu để dành lấy những nhu cầu tối thiểu nhất cho họ. Thật không may, tại thế giới thứ ba có rất nhiều nạn nhân đang sống trong tình trạng này (cf. Centesimus Annus, n. 33).
- Công bằng xã hội cần được hiểu như thế nào?
Công bằng xã hội được áp dụng cho hết tất cả mọi người, người làm chủ cũng như là người làm công. Bản chất của công bằng xã hội đòi hỏi mỗi cá nhân phải góp phần xây dựng công ích. Vì thực ra, đức công bằng trước hết là một nhân đức thuộc phạm trù luân lý cũng như pháp lý. Công bằng giúp xây dựng tổng thể chứ không phá vỡ; nó dẫn đến hòa giải chứ không trả thù. Tự trong bản chất sâu thẳm, đức công bằng được bắt nguồn từ đức ái mà hình thái biểu lộ của đức ái là lòng thương xót, vị tha. Vì thế, nếu chỉ áp dụng công bằng mà không có lòng thương xót, thì nó sẽ trở thành tê cứng và vô cảm (cf. World Day of Peace Message, 1998, # 1).
- HTXH đề cập đến công bằng và bác ái ra sao?
“Chúng ta phải thừa nhận rằng, lòng thương xót chân thật là sự khởi nguồn của đức công bằng.” Lòng thương xót đối với Kitô hữu một nghĩa nào đó chính là sự hiện thân của sự bình đẳng giữa con người với nhau; vì thế nó cũng là sự hiện thân một cách hoàn hảo nhất cho đức công bằng. Tuy nhiên, sự bình đẳng được mang lại do bởi đức công bằng thì bị giới hạn bởi những điều kiện yếu tố ngoại cảnh, trong khi tình yêu và lòng thương xót sẽ giúp con người gặp nhau trong bản chất của nhân vị con người (cf. Dives in Misericordia, # 14).
- Công bằng trong mối quan hệ quốc tế nên được hiểu như thế nào?
Việc quan trọng nhất trong lãnh vực công bằng là mỗi quốc gia được quyền phát triển theo tiêu chuẩn của quốc gia đó mà không bị ảnh hưởng bởi sự thống trị về mặt kinh tế hay chính trị của quốc gia khác. Mối phức tạp sẽ gia tăng khi có sự đan quyện và phụ thuộc vào nhau. Vì thế, các quốc gia cần can đảm thực hiện việc cải thiện mối quan hệ với nhau. Những vấn đề [phá vỡ mối quan hệ] có thể là từ sự phân phối sản phẩm, cơ cấu trao đổi, sự quản lý lợi nhuận, hệ thống tiền tệ cho đến vấn đề khuôn mẫu phát triển của các nước giàu cũng như là thay đổi hướng nhìn của con người. Tất cả vấn đề này phải được đặt trong mối quan hệ tất cả mọi con người là một khối thống nhất. Khi nhận thức điều này, các quốc gia sẽ hiểu được rằng: Làm mới lại các quan hệ với nhau và thực hiện bổn phận xây dựng cộng đồng quốc tế là trách nhiệm hàng đầu của họ (cf. Octogesima Adveniens, n. 43).
- Thực thi lòng bác ái có phải là thực thi công bằng không?
Thưa phải, vì bác ái là cội nguồn của công bằng. GLCG số 1889 dạy rằng, “Ðức mến là điều răn mang tính xã hội cao nhất. Ðức mến tôn trọng tha nhân và các quyền lợi của họ, đòi buộc thực thi công bình mà chỉ có đức mến mới giúp ta thực hiện được. Ðức mến thúc đẩy chúng ta sống dấn thân: “Ai tìm cách giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình, thì sẽ bảo tồn được mạng sống” (Lc 17, 33).”
- Giúp đỡ người nghèo có phải là xây dựng phẩm giá con người không?
Trong khi thúc đẩy phát triển phẩm giá con người, Giáo hội thể hiện lòng thiên vị giúp đỡ người nghèo, bởi vì Thiên Chúa đã chấp nhận mang lấy thân phận nghèo ở giữa những người nghèo một cách đặc biệt (cf. Mt 25:40). Tình yêu này không loại trừ một ai. Vì quả thật truyền thống Giáo hội đã chứng minh, chính lòng thương xót người nghèo đã khơi dậy trong chúng ta khả năng muốn ôm chầm lấy những người đói khổ, nghèo túng, vô gia cư, bệnh tật và đặc biệt là những ai đang sống trong tuyệt vọng không có tương lai (cf. Ecclesia in Asia, # 34). Và như thế, giúp đỡ người nghèo là cách thức trực tiếp giúp con người phát triển phẩm giá cho chính bản thân và đồng loại.
- Ai là người có trách nhiệm giúp đở người nghèo?
Giáo hội đã nhiều lần dạy bảo con cái mình rằng: giúp đỡ người nghèo và người kém may mắn là một trách nhiệm đặc biệt của người công giáo bởi vì họ là chi thể của Thân Thể Chúa Kitô. “Vì chính trong Thân Thể này chúng ta biết tình yêu của Thiên Chúa,” như tông đồ Gioan cho chúng ta biết: “đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được” (I Jn 3: 16-17) (cf. Mater et Magistra, # 159).
- Mức độ can thiệp của nhà nước về vấn đề “an sinh xã hội” cho người dân như thế nào?
Trong lãnh vực an sinh xã hội cũng vậy, nhà nước nên cân nhắc và áp dụng nguyên tắc bổ trợ cho thấu đáo: “Một tập thể cấp cao không được can thiệp vào nội bộ tập thể cấp thấp đến độ tước mất các thẩp quyền của nó, nhưng đúng hơn phải nâng đỡ nó khi cần thiết, và giúp nó phối hợp hoạt động với những tập thể khác, để mưu cầu ích chung.” Có như thế, sự tự do của người dân sẽ không bị tổn thương và nhân vị của họ cũng được tôn trọng (cf. Centesimus Annus, # 48).
Môi Trường, Cộng Đồng Quốc Tế, và thực hành HTXH (311- 369)
- Kinh Thánh nói lên ý nghĩa của môi trường như thế nào?
Sách Sáng Thế đoạn 1 câu 25 miêu tả, “Và Thiên Chúa thấy tất cả đều tốt đẹp.” Những lời này của trang đầu Kinh Thánh tỏ cho chúng ta thấy ý nghĩa của những gì Thiên Chúa đã làm, và sau đó chính Ngài đã trao đặc quyền cai quản mặt đất cho con người (cf. St 2:15). Điều này cho thấy mỗi con người đều có một trách nhiệm cụ thể trong lãnh vực môi trường sinh thái. Con người có trách nhiệm với môi trường mà Thiên Chúa ban cho họ nhằm để phẩm giá và sự sống của họ được hoàn thiện trong chính môi trường ấy. Con người có trách nhiệm bảo vệ môi trường không chỉ giới hạn trong hiện tại, nhưng cũng còn có trách nhiệm đối với thế hệ tương lai (cf. Evangelium Vitae, # 42). Vậy khi chu toàn bổn phận này, con người có khả năng vượt qua lối sống ích kỷ là nguyên nhân dẫn tới việc huỷ diệt những tài nguyên tự nhiên (cf. Ecclesia in America, # 25).
- Thế giới hôm nay phải đối diện những vấn đề môi trường như thế nào?
Thực tế cho thấy, hậu quả của việc khai thác các nguồn tài nguyên một cách bừa bãi với một tinh thần thống trị tuyệt đối đã gây ra mối nguy hại vô cùng nghiêm trọng không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho thế hệ tương lai. Tất cả chúng ta đều nhìn thấy hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của nền công nghiệp hoá. Chúng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và tác hại nghiêm trọng cho sức khoẻ con người (cf. Sollicitudo Rei Socialis, # 34). Như thế, việc phát triển công nghiệp mà thiếu ý thức về môi trường thì góp phần vào việc huỷ diệt hơn là xây dựng.
- Môi trường có liên quan đến đạo đức không?
Thưa có, chúng ta cần nhớ rằng, quyền cai quản mà Thiên Chúa ban tặng cho con người không phải là một quyền tuyệt đối; cũng không phải là sự tự do muốn thì dùng không muốn thì bỏ đi như ý mình. Nhưng ngay từ đầu, Thiên Chúa đã đặt con người trong giới hạn của loài thọ tạo bằng hình ảnh không được ăn trái cấm (cf. Gn 2:16-17). Như vậy, vấn đề môi trường không chỉ đơn thuần là vấn đề sinh học, nhưng cũng là vấn đề luân lý, đạo đức (cf. Sollicitudo Rei Socialis, # 34).
- Nguyên nhân sâu xa của sự huỷ diệt môi trường do từ đâu?
Trong tâm thức của con người hôm nay mang hai nỗi âu lo. Một mặt họ lo lắng về vấn đề môi trường, mặt khác họ cũng lo lắng về sự an toàn hưởng thụ của họ. Con người hôm nay muốn sở hữu và hưởng thụ hơn là muốn lớn lên trưởng thành. Con người sử dụng các nguồn thiên nhiên và bản thân họ một cách thái quá và rối loạn. Thực ra cốt lõi của sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên bắt nguồn từ sự nhận thức sai lầm của loài người; nhưng thật không may điều này ngày càng lan rộng trong thời đại chúng ta. Con người nhận thức rằng mình có khả năng để cải tạo thế giới nhưng họ lại quên rằng khả năng này phải dựa vào Thiên Chúa. Chính vì thế, thay vì thực hiên vai trò là người cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo dựng, con người lại muốn thế chỗ Thiên Chúa; họ muốn áp đặt hơn là phục tùng Người (cf. Centesimus Annus, # 37). Đó chính là nguyên nhân sâu xa của thảm trạng cho môi trường của thế giới loài người hôm nay.
- Môi trường liên quan đến phẩm giá con người ra sao?
Việc thúc đẩy phẩm giá con người liên quan đến việc tái tạo một môi trường lành mạnh. Vì thực ra quyền này nêu bật tính đa dạng của mối quan hệ giữa mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội. Thế giới hiện tại và tương lai phụ thuộc vào sự ổn định môi trường, bởi vì con người và môi trường có một mối liên hệ vô cùng chặt chẽ. Đặt con người vào trung tâm của những vấn đề môi trường là cách thức chắc chắn nhất để ổn định môi trường (cf. World Day of Peace Message, 1999, # 10).
- Gia đình nhân loại gồm những ai?
Theo mạc khải từ Kinh Thánh, Thiên Chúa tác tạo người nam và người nữ theo hình ảnh của Người. Mối giây liên kết giữa con người với Đấng Tạo Hóa bảo đảm cho người nam và người nữ phẩm giá và những quyền căn bản không gì có thể thay thế được. Những quyền này hiển nhiên là nhằm hướng đến những người khác. Không một cá nhân, tổ chức hay chính quyền nào được phép tước đoạt những quyền căn bản này. Nguồn Mạc Khải đã khẳng định rằng: mọi người đều được Thiên Chúa tạo dựng và cùng chung một cội nguồn. Như thế, dù hoàn cảnh lịch sử có làm cho con người phân tán hay thậm chí có sự khác biệt giữa con người với nhau, thì theo kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa, mọi người cùng thuộc về một gia đình nhân loại; mọi người đều thuộc về Thiên Chúa (cf. The Church and Racism, # 19–20).