Mặt khác, “Mỗi cá nhân con người, thực ra họ không chỉ là những khách thể thụ động trong trật tự xã hội, nhưng họ phải là và tiếp tục là chủ thể của xã hội, là nền tảng và cùng đích của xã hội đó” (Pius XII, Christmas Eve Radio Message, 1944). Vì thế, công dân có quyền tham gia vào các vần đề xã hội và góp phần của họ vào lợi ích chung cho mọi người. Những nỗ lực và quyết định của họ sẽ góp phần định hướng vận mệnh chung cho thế giới. Chiến tranh và bất công sẽ không thể tránh khỏi nếu quyền tham gia chọn lựa thế chế xã hội của người dân bị chối bỏ (cf. Peace Message, 1985, # 9). Cụ thể, mọi công dân có quyền tự do tham gia tích cực vào việc thiết lập các nền tảng pháp lý của cộng đồng chính trị, tham gia vào việc điều hành quốc gia, xác định mục tiêu và phạm vị của các cơ quan khác nhau cũng như tham gia vào việc lựa chọn người lãnh đạo (cf. GS # 75).
- Văn hóa và Phúc âm liên hệ với nhau như thế nào?
Văn hóa là không gian sống động mà trong đó con người đối diện với Tin Mừng một cách trực tiếp. Vì văn hóa là kết quả của đời sống và hoạt động của một nhóm người, vì thế, những ai thuộc về nhóm người ấy, thì họ cũng được hình thành và lớn lên dưới sự ảnh hưởng của nền văn hóa mà họ đang sống. Khi con người và xã hội thay đổi, thì nền văn hóa cũng thay đổi. Cũng vậy, khi văn hóa biến chuyển, thì con người và xã hội cũng theo nó mà biến chuyển. Từ viễn cảnh này, chúng ta dễ dàng nhận thấy giữa việc rao giảng Phúc âm và hội nhập văn hóa có một mối quan hệ gần gũi và tự nhiên (cf. Ecclesia in Asia, # 21). Thực vậy, khi thực hiện việc truyền giáo giữa các dân tộc, Giáo hội gặp nhiều loại hình văn hóa khác nhau và dấn bước vào tiến trình hội nhập. Giáo hội thông truyền những giá trị của mình cho các dân tộc ấy và đồng thời thu lượm những giá trị cao đẹp có sẵn và canh tân những giá trị ấy (cf. Redemptoris Missio, # 52).
- Phát triển kinh tế có nghĩa là phát triển con người có phải không?
Thưa không, thật đáng buồn khi thế giới hôm nay thâu hẹp ý nghĩa của sự phát triển chỉ đơn thuần được hiểu trong lĩnh vực kinh tế. Nên nhớ rằng, việc gia tăng tài sản cho mỗi cá nhân và quốc gia không phải là mục tiêu cuối cùng của con người. Ngày nay, chúng ta thấy có nhiều quả tim chai cứng và tâm hồn đóng kín khi có nhiều người không còn gặp gỡ nhau trong tình bạn nhưng chỉ là vì tư lợi, dễ dàng dẫn đến đối nghịch và bất đồng. Vì thế, việc thao thức kiếm tìm của cải đã trở thành chướng ngại vật để hoàn thành sứ mạng cá nhân và giá trị chân thật của con người (cf. Populorum Progressio, # 19). Như thế, phát triển kinh tế chỉ có ý nghĩa khi góp phần cho sự phát triển con người toàn diện.
- Giữa việc phát triển con người và rao giảng Phúc âm có liên hệ với nhau không?
Thưa có, trung tâm của việc rao giảng Phúc Âm là sự phát triển toàn vẹn. Nghĩa là phát triển cho từng con người và cho mọi người, đặc biệt những con người nghèo khổ nhất và những cộng đồng bị lãng quên nhất. Thực vậy, giữa việc rao giảng Phúc âm và phát triển con người – thăng tiến và giải phóng, có một liên hệ sâu sắc. Đó chính là mối liên hệ nhân vị, bởi vì con người sắp được đón nhận Phúc âm không phải là một đối tượng trừu tượng nhưng là một chủ thể của những vấn đề kinh tế và xã hội (cf. Ecclesia in Africa, # 68). Rõ ràng, sứ mạng rao giảng Phúc Âm nhất thiết phải được gắn chặt với phát triển con người.
- Công ích là gì?
Công ích là “toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn” (GS #26). Công ích liên quan đến đời sống của mọi người. Vì thế, công ích đòi hỏi sự cẩn trọng ở mỗi cá nhân và đặc biệt đối với những ai đang nắm quyền hành.
- Ba yếu tố căn bản của công ích là gì?
Công ích có ba yếu tố căn bản sau: “Trước hết, công ích phải tôn trọng con người với tư cách là người. Nhân danh công ích, chính quyền có bổn phận tôn trọng các quyền căn bản và bất khả nhượng của con người. Xã hội phải giúp các thành viên thực hiện ơn gọi của mình. Đặc biệt, công ích cho phép con người thực thi các quyền tự do tự nhiên không thể thiếu để phát triển ơn gọi làm người, như quyền hành động theo qui tắc ngay thẳng của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời tư và quyền được tự do chính đáng, cả trong phạm vi tôn giáo nữa” (GLCG #1907).
Thứ hai, “công ích phải đạt đến sự an lạc xã hội và sự phát triển của chính tập thể. Mọi bổn phận xã hội đều quy về sự phát triển. Nhân danh công ích, nhà cầm quyền có nhiệm vụ làm trọng tài giữa các quyền lợi riêng tư khác nhau; phải giúp mỗi người có được những gì cần thiết để sống đúng với phẩm giá con người: lương thực, áo quần, sức khỏe, việc làm, giáo dục và văn hóa, thông tin đầy đủ, quyền xây dựng một gia đình, v.v…” (GLCG # 1908).
Thứ ba, “công ích còn phải kiến tạo hòa bình, bảo tồn một trật tự đúng đắn được lâu bền và ổn định. Điều này giả thiết rằng quyền bính phải bảo đảm an ninh cho xã hội và cho các thành viên của xã hội bằng những phương thế liêm chính. Công ích đặt nền tảng cho quyền tự vệ chính đáng của cá nhân và tập thể (GLCG # 1909).
- Chính quyền cần cân nhắc và áp dụng nguyên tắc công ích thế nào?
Khi áp dụng nguyên tắc công ích trên bình diện quốc gia, chính quyền cần lưu ý những điểm sau: Tạo công ăn việc làm cho càng nhiều người càng tốt; quan tâm đến những nhóm ít đặc quyền, duy trì sự cân bằng giữa đồng lương và giá cả; tạo điều kiện dễ dàng cho càng nhiều người tiếp cận với tài sản và các dịch vụ càng tốt để họ có một đời sống khá hơn; … cuối cùng, bảo đảm thúc đẩy cho sự tồn tại của con người không chỉ bằng cách phục vụ cho thế hệ hôm nay, nhưng còn quan tâm đến các thế hệ tương lai nữa (cf. Mater et Magistra, # 79).
Như thế, “quyền bính chỉ được hành xử hợp pháp khi mưu cầu công ích cho tập thể liên hệ và đạt tới mục đích ấy bằng các phương thế mà luân lý cho phép. Nếu các nhà lãnh đạo đưa ra những luật pháp bất công hay sử dụng những biện pháp trái luân lý, lương tâm không buộc phải tuân theo. Trong trường hợp này, quyền bính không còn là quyền bính nữa mà thoái hóa thành áp bức.” (GLCG # 1903).
- Để duy trì nguyên tắc công ích, chánh quyền nên làm gì?
Nhất thiết chánh quyền cần phải hiểu đúng ý nghĩa của công ích. Tức là “toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn” (GS #26). Như thế, nhà nước cần tôn trọng và đối xử từng cá nhân là một nhân vị; khuyến khích họ tham gia vào các công việc của tập thể. Kết quả là nhiều mối liên hệ giữa người với người phát triển và gắn bó; những phúc lợi chung sẽ sẵn sàng hơn cho mọi người tiếp cận.
- “Tội xã hội” là tội gì?
Khi nói đến “tội xã hội” nghĩa là trước hết chúng ta nhận thức rằng, bởi đặc tính hiệp nhất nơi loài người – vừa bí ẩn và không hiểu thấu nhưng cũng rất thực và cụ thể, nên tội của mỗi cá nhân cách này hay cách khác cũng có ảnh hưởng đến người khác. Thứ hai, có những tội tự trong bản chất cấu thành nó xúc phạm trực tiếp đến người xung quanh. Chính xác hơn, theo ngôn ngữ Phúc Âm, nó xúc phạm đến anh chị em mình. Những tội này xúc phạm đến Thiên Chúa là vì chúng xúc phạm đến những người chung quanh. Những tội này gọi là “tội xã hội” (cf. Reconciliatio et Paenitentia, # 16). Theo Giáo Lý Công Giáo: “Tội làm cho con người trở thành đồng lõa với nhau, và để dục vọng, bạo lực, bất công thống trị. Tội lỗi tạo nên những tình trạng xã hội và những định chế nghịch lại với lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Các “tổ chức tội ác” vừa biểu lộ và vừa là hậu quả của các tội cá nhân. Chúng xúi giục các nạn nhân cùng phạm tội. Hiểu nghĩa loại suy, có thể gọi chúng là “tội xã hội”, “tội tập thể” (GLCG 1869).
Đọc thêm GLCG 1878-1889
Vai Trò của Nhà Nước (178 – 201)
- Theo HTXH, quyền bính có vai trò như thế nào?
HTXH thừa nhận và xác định vai trò cần thiết của quyền bính. Vì “Xã hội loài người sẽ không trật tự và thịnh vượng nếu xã hội ấy không có những con người có được quyền bính hợp pháp để duy trì các cơ chế của xã hội và phục vụ công ích đầy đủ” (cf. Pacem in Terris # 46). Như vậy, mọi tập thể con người đều cần đến quyền bính để điều hành tập thể ấy. Nền tảng của quyền bính được dựa trên bản tính tự nhiên của con người. Quyền bính cần thiết cho sự hiệp nhất trong một cộng đoàn. Vai trò của quyền bính là bảo đảm tối đa công ích cho xã hội (GLCG # 1898). Vì thế, HTXH nhấn mạnh sự tôn trọng và vâng phục quyền bính. “Bổn phận vâng phục đòi buộc mọi người phải tôn trọng quyền bính cho xứng hợp; đối với những người đang thi hành công vụ, phải tôn trọng và tùy công trạng của họ mà tỏ lòng biết ơn và quí mến” (GLCG # 1900).
- Quyền bính có bị giới hạn bởi yếu tố nào không?
Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng dạy rằng: “Việc hành xử quyền bính chính trị trong chính cộng đoàn hoặc trong các cơ quan đại diện cho quốc gia luôn luôn phải nằm trong giới hạn của trật tự luân lý để đem lại kết quả và mưu cầu công ích – công ích ở đây phải hiểu cách năng động – tùy theo trật tự pháp lý đã hoặc sẽ được thiết lập cách hợp pháp. Trong trường hợp đó mọi công dân phải tuân theo lương tâm mà tuân phục. Và do đó, những người lãnh đạo đương nhiên có trách nhiệm, có thế giá và có uy quyền (GS # 74).
- Dựa vào đặc tính nào thì luật của nhà nước mới thực sự có hiệu lực?
“Luật pháp của loài người chỉ là luật phù hợp với lẽ phải; có hiệu lực là nhờ “luật vĩnh cửu”. Khi xa lìa lẽ phải, luật sẽ không còn là luật nữa, nhưng là một sự bất công, thậm chí còn là một hình thức bạo lực” (Thomas Aquinas, Tổng Luận Thần học, I-II, 93, 3.2). Như thế, “về mặt luân lý, không phải người cầm quyền làm gì cũng hợp pháp. Họ không được xử sự cách chuyên chế, nhưng là phải hành động cho công ích vì quyền bính là một sức mạnh tinh thần đặt nền tảng trên tự do và ý thức trách nhiệm” (GLCG # 1902).
- HTXH nêu lên hình thức “tam quyền phân lập” như thế nào?
ĐGH Leô XIII trong thông điệp Rerun Novarum đã nhắc tới hình thức tam quyền phân lập mà đương thời được xem như là điểm mới trong giáo huấn Giáo hội. Hình thức này phản ảnh một viễn cảnh trung thực bản chất của xã hội loài người; nó có khả năng pháp lý trong việc bảo vệ sự tự do cho mọi người. Mỗi một phân quyền điều được cân bằng bởi hai phân quyền kia và bởi phạm vi trách nhiệm được quy định trong giới hạn của phân quyền ấy. Đây là “nguyên tắc của luật” để làm cho luật có giá trị tối thượng chứ không phải do ý chí của một cá nhân độc tài nào (cf. Centesimus Annus, # 44).
Như thế, khi các vấn đề xã hội nảy sinh, các giới chức cần giải quyết những vấn đế ấy theo chức năng phù hợp của mình. Trong những hoàn cảnh thay đổi, các nhà lập pháp không bao giờ được phép quên những qui phạm luân lý, hiến pháp, công ích. Đối với các nhà hành pháp, sau khi cân nhắc cẩn thận các yếu tố hoàn cảnh, họ phải điều hành những hoạt động xã hội với sự thận trọng và am hiểu luật pháp. Cuối cùng, đối với các nhà tư pháp, họ cần phải xét xử một cách công bằng mà không chịu bất cứ sự ảnh hưởng chi phối nào do thiên vị hay áp lực (cf. Pacem in Terris, # 69).
- Trách nhiệm của nhà nước trong lãnh vực tôn giáo như thế nào?
Nhà nước cần phải bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho mọi công dân bằng luật pháp và bằng các phương tiện hữu hiệu khác. Chính quyền cũng cần tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy đời sống tôn giáo để nhờ đó người dân có khả năng thực hành quyền tôn giáo và sống bổn phận tôn giáo của họ. Khi làm như thế, chính xã hội ấy cũng sẽ được hưởng những hoa trái vì những phẩm chất luân lý của công bằng và hòa bình được bắt nguồn từ niềm tin của con người với Thiên Chúa và Thánh ý của Người (cf. Dignitatis Humanae, # 6).
- HTXH nêu lên quyền lựa chọn thể chế chính trị ra sao?
Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng dạy rằng: “Có quyền bính là do bởi Thiên Chúa an bài, nhưng việc định đoạt những thể chế chính trị hay cắt cử người cầm quyền, vẫn là quyền tự do của mọi công dân” (GS # 74).
“Về mặt luân lý, các thể chế chính trị có thể khác nhau, miễn sao các thể chế này mang lại lợi ích chính đáng cho cộng đoàn đã thừa nhận chúng. Các thể chế có bản chất trái ngược với luật tự nhiên, với trật tự công cộng và các quyền căn bản của con người, thì không thể đem lại công ích cho những quốc gia đang theo thể chế đó” (GLCG # 1901).
Như vậy, nếu một thể chế nhà nước vừa không do người dân chọn lựa lại vừa trái với luật tự nhiên, thì thế chế ấy không xứng đáng để tồn tại.
- Thông điệp nào nêu rõ nguyên nhân và mối nguy hiểm của nhà nước độc tài?
Trong thông điệp Centesimus Annus, ĐGH Gioan Phaolô II đã nói rất rõ và mạnh mẽ rằng: Trong thời hiện đại, chế độ độc tài dưới chủ nghĩa Marxit- Lenin… duy trì quan điểm rằng họ không mắc sai lầm và vì thế trở nên kiêu căng thi hành quyền lực một cách tuyệt đối…Nguyên nhân sâu xa của chế độ độc tài trong thời hiện đại là vì họ khước từ sự nhìn nhận phẩm giá siêu việt của con người như là hình ảnh của Thiên Chúa. Vì con người là chủ thể của các quyền nên không một cá nhân nào, tập thể nào, giai cấp nào, dân tộc hay quốc gia nào có quyền xâm phạm các quyền này được… Đối với những nhà nước hay đảng phái tự cho rằng mình có sứ mạng lịch sử dẫn đầu [mọi người] đến sự hoàn thiện, và tự đặt mình lên trên các giá trị khác, thì các nhà cầm quyền này cũng không chấp nhận các tiêu chuẩn khách quan về sự thiện và sự ác vượt ra khỏi ý chí của họ. Vì như các tiêu chuẩn này, trong những hoàn cảnh nhất định sẽ xét xử các hành động của họ. Đó là lý do tại sao nhà nước độc tài tìm mọi cách để tiêu diệt Giáo hội, hay ít nhất cũng làm cho Giáo hội trở nên phục tùng và trở thành cộng cụ trong cơ cấu ý thức hệ của nó (cf. Centesimus Annus, # 44–45).
- Theo HTXH, chúng ta hiểu như thế nào là dân chủ?
Giáo hội đề cao thể chế dân chủ là vì nó bảo đảm sự tham gia của người dân vào việc lựa chọn thể chế chính trị, bảo đảm được việc điều hành chính phủ và có thể thay đổi nó một cách bình yên khi phù hợp. Nhưng Giáo hội không thể khuyến khích việc hình thành các tổ chức nhằm chiếm đoạt quyền hành vì tư lợi cá nhân hay mục đích ý thức hệ. Như thế, nền dân chủ thực thụ chỉ hiện diện trong một quốc gia khi quốc gia ấy tôn trọng luật pháp và có những quan niệm đúng đắn về nhân vị con người (cf. Centesimus Annus, # 46).
Mặt khác, dân chủ không thể bị thần tượng hóa đến mức như là sự thay thế cho nền đạo lý hoặc như một thần dược cho sự vô luân. Thực ra, dân chủ là một “hệ thống” và như là một phương tiện chứ nó không phải là cùng đích. Giá trị luân lý của nó không mang tính tự động, nhưng phụ thuộc vào sự tuân theo luật luân lý, mà như tất cá các hình thức cư xử khác của con người là chủ thể. Nói cách khác, luân lý dân chủ được quyết định bởi hậu quả luân lý mà nó theo đuổi và phương tiện mà nó sử dụng (cf. Evangelium Vitae, # 70).
- Hậu quả của một nền dân chủ không giá trị sẽ ra sao?
Một nền dân chủ không giá trị là một nền dân chủ không dựa trên sự thật và phẩm giá con người. Thực vậy, nếu không hướng đến sự thật trọn hảo, thì các hoạt động chính trị, các tư tưởng và giáo điều dễ dàng bị nhào nặn nhằm mục đích bảo vệ quyền lực. Như lịch sử đã chứng minh, nền dân chủ không có giá trị sẽ dễ dàng biến thành một chủ nghĩa độc tài biến dạng. Vì thế, mọi lãnh vực của cá nhân, gia đình, xã hội, luân lý cần phải được đặt trên nền tảng sự thật và mở lòng trong sự thật để hướng đến sự tự do chân thật (cf. Veritatis Splendor, # 101).
- Bằng chứng nào cho thấy một nhà nước có dân chủ thật sự?
Thông điệp Tin Mừng Sự Sống giúp cho ta thấy bằng chứng nền dân chủ của một quốc gia có thật hay không: [Một quốc gia] “sẽ không có một nền dân chủ thực sự nếu sự nhận thức về phẩm giá và quyền của mỗi người không được nhìn nhận; và dĩ nhiên, ở nơi đó cũng sẽ không có hòa bình nếu sự sống không được bảo vệ và ủng hộ” (Evangelium Vitae, # 101). Rõ ràng, bất cứ ở nơi đâu chính quyền không tôn trọng phẩm giá con người và không bảo vệ sự sống con người thì ở nơi đấy không có nền dân chủ thực sự.
Kinh Tế (202 – 250)
- HTXH đóng vai trò như thế nào trong lĩnh vực kinh tế?
Giáo hội ban tặng món quà HTXH cho con cái mình như là một lý tưởng định hướng không thể thay thế được. Giáo huấn này nhìn nhận những giá trị của thị trường và hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời nó cũng chỉ ra những điểm nhằm hướng đến công ích. Giáo huấn này cũng nhìn nhận tính hợp pháp về nỗ lực của người lao động nhằm đạt được sự tôn trọng phẩm giá của họ một cách đầy đủ và tạo những môi trường rộng lớn hơn để họ tham gia vào các lãnh vực thương mại công nghiệp. Như thế, trong khi hợp tác với người khác và làm việc dưới sự hướng dẫn của người khác, họ thực sự làm việc cho chính họ qua khả năng vận dụng trí thông minh và sự tự do (cf. Centesimus Annus, n. 43).
- HTXH nói gì về quyền làm chủ của con người đối với các tạo vật trên mặt đất?
Trang đầu tiên của sách Khởi Nguyên dạy rằng: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất” (Kn 1:28). Như thế, khi con người được Thiên Chúa ban tặng cho quyền làm chủ trên các tạo vật, thì con người cũng được ban tặng khả năng hiểu biết, sức lao động để có trách nhiệm làm chủ và hưởng dùng những tạo vật được giao phó. Vậy nếu thế giới này được tạo thành nhằm làm phương tiện để nuôi sống, phát triển cho mỗi con người thì họ cũng có quyền kiếm tìm những gì cần thiết cho đời sống của họ (cf. Populorum Progressio, # 22).
- Con người nên có cái nhìn về quyền sở hữu của cải theo cách nào?
Con người theo quyền tự nhiên được sở hữu của cải. Điều này không chỉ là hợp pháp nhưng còn là cần thiết cho mọi người (cf. Aquinas, Tổng Luận Thần Học, II-II, 66, 2, c). Nhưng vấn đề đặt ra là mỗi người có quyền sở hữu bao nhiêu của cải [thì vừa]? Về điểm này, Giáo hội không ngần ngại chỉ rõ rằng: mỗi người không nên nhìn của cải vật chất như là của riêng họ, nhưng thực ra trên bình diện chung, họ nên sẵn sàng chia sẻ với những ai đang cần (cf. Rerum Novarum, # 22).