Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

TÔNG HUẤN “TA ĐÃ YÊU CON” (DILEXI TE) CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

17. Trong viễn tượng này, ta dễ hiểu hơn những trang Kinh Thánh Cựu Ước: Thiên Chúa được giới thiệu như người bạn và Đấng giải thoát người nghèo khổ, Đấng lắng nghe tiếng kêu của họ và ra tay cứu giúp (x. Tv 34,7). Thiên Chúa là nơi nương tựa của người nghèo. Ngài đã dùng các ngôn sứ, đặc biệt là Amốt và Isaia, để vạch trần những bất công chống lại người yếu thế. Ngài kêu gọi Israel đổi mới tận căn đời sống phụng tự. Không thể cầu nguyện và dâng lễ tế nếu còn đàn áp người nghèo và người yếu đuối. Ngay từ những trang đầu Kinh Thánh, tình yêu của Thiên Chúa đã được thể hiện sống động qua việc Ngài che chở những người yếu đuối và nghèo khó. Có thể nói, Ngài dành một tình yêu đặc biệt cho họ: “Trong trái tim Thiên Chúa có một chỗ đặc biệt dành cho người nghèo […]. Toàn bộ lịch sử cứu độ của chúng ta mang dấu ấn của người nghèo.”1

 

Đức Giêsu- Đấng Messia nghèo

18. Toàn bộ hành trình Cựu Ước cho thấy Thiên Chúa ưu ái người nghèo và luôn lắng nghe tiếng kêu của họ. Điều này được thể hiện trọn vẹn nơi Đức Giêsu thành Nadarét.2 Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Ngài “đã tự hủy mình, mặc lấy thân phận tôi tớ, trở nên giống phàm nhân; sống như người trần thế” (Pl 2,7). Chính trong thân phận này, Ngài mang ơn cứu độ cho chúng ta. Đó là một sự nghèo khó tận căn, phát sinh từ chính sứ mạng của Ngài: tỏ cho chúng ta thấy dung mạo đích thực của tình yêu Thiên Chúa. (x. Ga 1,18; 1 Ga 4,9). Vì thế, mầu nhiệm này được thánh Phaolô tóm lại trong một câu tuyệt đẹp: “Thật vậy, anh chị em biết ân sủng của Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, đó là mặc dù giàu sang, Ngài đã trở nên nghèo khó vì anh chị em, để anh chị em nhờ sự nghèo khó của Ngài mà được giàu có.” (2 Cr 8,9).

19. Thật vậy, các sách Tin Mừng cho thấy sự nghèo khó thấm đẫm mọi khía cạnh trong cuộc đời Đức Giêsu. Ngay từ khi sinh ra, Ngài đã nếm trải thân phận bị khước từ: Thánh Luca kể rằng, khi thánh Giuse và Đức Maria đến Bêlem, Đức Maria sắp sinh mà “không tìm được chỗ trọ” (Lc 2,7). Ngài được sinh ra trong cảnh đơn sơ, đặt nằm trong máng cỏ, rồi sớm phải trốn sang Ai Cập để thoát khỏi tay bạo chúa (x. Mt 2,13–15). Khi khởi đầu sứ vụ công khai trong hội đường Nadaret, sau khi công bố “năm hồng ân” được ứng nghiệm nơi mình, Ngài đã bị dân thành Nadarét ruồng bỏ (x. Lc 4,14–30). Cả khi chết, Ngài cũng không có nơi nương thân: bị dẫn ra khỏi thành Giêrusalem để chịu đóng đinh (x. Mc 15,22). Chính trong tình cảnh đó, ta thấy rõ sự nghèo khó của Đức Giêsu, vốn mang cùng bản chất với thân phận bị loại trừ của người nghèo, không được xã hội đón nhận. Đức Giêsu chính là hiện thân sống động của “đặc quyền dành cho người nghèo” (privilegium pauperum). Ngài đến thế gian không chỉ như Đấng Messia nghèo khó, mà còn là Đấng Messia của người nghèo và vì người nghèo.

20. Một vài chi tiết trong Tin Mừng cho thấy địa vị xã hội khiêm tốn của Đức Giêsu. Trước hết, Ngài làm nghề thợ thủ công, thợ mộc (téktōn, x. Mc 6,3). Đó là những người lao động tay chân, không có ruộng đất, bị coi là hạng thấp hèn so với nông dân. Khi được tiến dâng trong Đền Thờ, cha mẹ Ngài chỉ dâng “một đôi chim gáy hay bồ câu non” (x. Lc 2,22–24), tức là lễ vật của người nghèo, theo luật Lêvi (x. Lv 12,8). Một chi tiết khác đáng chú ý là việc Đức Giêsu và các môn đệ bứt lúa để ăn khi đi qua các cánh đồng (x. Mc 2,23–28). Đó là điều mà Lề Luật chỉ cho phép những người nghèo khổ được phép làm. Chính Ngài cũng nói về mình: Cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Loài Người không có chỗ tựa đầu(Mt 8,20; Lc 9,58). Ngài là vị Thầy lang thang, sống trong cảnh nghèo hèn và bấp bênh, như một dấu chỉ gắn bó trọn vẹn với Chúa Cha. Đó cũng là lời mời gọi cho những ai muốn bước theo Ngài trên hành trình môn đệ. Trên nẻo đường này, sự từ bỏ của cải, giàu sang và an toàn trần thế, trở thành dấu chứng phó thác bản thân vào Thiên Chúa quan phòng.

21.Khi khởi đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu vào hội đường Nadarét, mở sách ngôn sứ Isaia và đọc:

Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
vì Ngài đã xức dầu cho tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo.” (Lc 4,18; x. Is 61,1).

Ngài tỏ mình là Đấng mang đến sự gần gũi đầy yêu thương của Thiên Chúa ngay trong hiện tại lịch sử — một hành động giải thoát cho những ai bị xiềng xích bởi sự dữ, yếu đuối hay nghèo hèn. Các dấu lạ kèm theo việc Đức Giêsu rao giảng diễn tả tình yêu và lòng xót thương của Thiên Chúa dành cho những người bệnh tật, nghèo khó và tội lỗi. Họ là những người bị xã hội và thậm chí cả tôn giáo gạt ra bên lề. Ngài mở mắt cho người mù, chữa lành kẻ phong, cho kẻ chết sống lại, và loan báo Tin Mừng cho người nghèo. Điều đó cho thấy Thiên Chúa đã đến gần, Thiên Chúa yêu thương anh chị em (x. Lc 7,22). Chính vì thế, Ngài tuyên bố: “Phúc thay anh em, những người nghèo, vì Nước Thiên Chúa là của anh em.” (Lc 6,20).

Thiên Chúa luôn tỏ ra ưu ái cho người nghèo: Ngài trao lời hứa giải thoát và niềm hy vọng trước tiên cho họ, để giữa cảnh nghèo khổ hay yếu đuối, không ai còn cảm thấy bị bỏ rơi. Vì thế, Giáo hội, nếu muốn thực sự thuộc về Đức Kitô, phải là Giáo hội của các Mối Phúc Thật. Một Giáo hội dành chỗ cho những người nhỏ bé, sống nghèo với người nghèo, là nơi có chỗ ưu tiên cho người nghèo (x. Gc 2,2–4).

22.Thời bấy giờ, những người túng thiếu, bệnh tật, không đủ khả năng tự lo cho cuộc sống, thường buộc phải đi ăn xin. Họ mang theo nỗi xấu hổ xã hội, vì người ta cho rằng nghèo đói và bệnh tật là hậu quả của tội lỗi cá nhân. Đức Giêsu đã mạnh mẽ bác bỏ lối nghĩ sai lầm này. Ngài khẳng định rằng Thiên Chúa cho mặt trời của Ngài mọc lên trên kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính(Mt 5,45). Ngài còn đảo ngược quan niệm đó, như được minh họa trong dụ ngôn người phú hộ và anh Ladarô nghèo khó: “Này con, hãy nhớ lại, con đã nhận được những điều tốt trong đời con, trong khi Lazarô lại nhận những điều xấu; bây giờ, Lazarô được an ủi ở nơi đây, còn con phải chịu cực hình.” (Lc 16,25).

23. Như thế, ta nhận ra rằng: “Chính lòng tin vào Đức Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó và luôn gần gũi với những người nghèo khổ, bị loại trừ, là nền tảng để chúng ta quan tâm tới sự phát triển toàn diện của những thành viên bị bỏ rơi nhất trong xã hội.”3 Tôi vẫn thường tự hỏi: dù Kinh Thánh đã dạy rất rõ về người nghèo, tại sao vẫn còn nhiều người cho rằng họ có thể yên tâm mà bỏ qua người nghèo? Tạm thời, ta hãy tiếp tục suy niệm về điều mà Lời Chúa muốn nói với chúng ta liên quan đến mối tương quan của ta với người nghèo, cũng như vị trí thiết yếu của họ trong dân Thiên Chúa.

 

Lòng thương xót người nghèo trong Kinh Thánh

24.Thánh Gioan Tông đồ viết: “Kẻ không yêu thương anh chị em mà mình nhìn thấy được, thì không thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng mình không nhìn thấy được (1 Ga 4,20). Tương tự, khi trả lời vị kinh sư, Đức Giêsu đã kết hợp hai giới răn xưa thành một điều răn duy nhất: “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực” (Đnl 6,5) và Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Lv 19,18). Thánh Maccô ghi lại lời Đức Giêsu: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel! Chúa là Thiên Chúa chúng ta, Chúa là duy nhất. Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí và hết sức lực ngươi. Điều răn đứng thứ hai là: Ngươi phải yêu thương người lân cận như chính mình. Không có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” (Mc 12,29–31).

25. Sách Lêvi dạy yêu thương người lân cận, còn những bản khác lại mở rộng hơn: hãy kính trọng, thậm chí yêu cả kẻ thù, như lời sách Xuất Hành: “Nếu ngươi gặp bò hay lừa của kẻ thù đi lạc, hãy đưa nó về cho chủ. Nếu thấy lừa của kẻ thù ngã quỵ dưới gánh nặng, đừng bỏ mặc nó, nhưng hãy cùng giúp nó đứng dậy” (Xh 23,4–5). Qua đó, Kinh Thánh dạy ta rằng mọi người – kể cả kẻ thù – đều xứng đáng được tôn trọng và giúp đỡ khi họ lâm cảnh khó khăn.

26. Giới răn yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự được Đức Giêsu soi sáng thêm khi Ngài nhấn mạnh rằng: không thể yêu mến Thiên Chúa mà không thương người nghèo. Tình yêu dành cho tha nhân chính là dấu chứng cụ thể của tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa, như thánh Gioan nói: “Chưa từng có ai đã thấy Thiên Chúa; nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nên trọn nơi chúng ta […]Thiên Chúa là tình yêu, và ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4,12.16). Hai tình yêu này tuy khác nhau nhưng không thể tách rời. Ngay cả khi mối tương quan với Thiên Chúa không được quy chiếu cách minh nhiên, mỗi hành động yêu thương người khác vẫn phản chiếu tình yêu đối thần, như chính Đức Giêsu khẳng định: Quả thật, Ta nói cho các ngươi biết, những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh chị em bé mọn nhất này của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta(Mt 25,40).

27. Vì thế, thực thi lòng thương xót được coi như một dấu chỉ của lòng tôn thờ đích thực. Điều đó vừa làm tôn vinh Thiên Chúa, vừa giúp ta mở lòng ra để Thánh Thần biến đổi, nên giống hình ảnh Đức Kitô, phản chiếu lòng thương xót của Ngài nơi những người yếu đuối nhất. Tương quan với Thiên Chúa trong việc phụng thờ cũng giúp ta thoát khỏi nguy cơ sống theo toan tính vụ lợi. Thay vào đó, ta học biết sống quảng đại và chia sẻ vô vị lợi giữa những người yêu thương nhau và chia sẻ mọi sự cho nhau. Chính vì thế, Đức Giêsu dạy: “Khi anh dọn bữa trưa hay bữa tối, đừng mời bạn bè, anh chị em, bà con, láng giềng giàu có, kẻo chính họ cũng mời lại anh, và thế là anh đã được đền đáp. Nhưng khi anh đãi tiệc, hãy mời những người nghèo, tàn tật, què quặt, đui mù; và anh sẽ có phúc, do họ không có gì đền đáp, bởi vì anh sẽ được đền đáp khi những người công chính sống lại” (Lc 14,12– 14).

28. Lời Chúa mời gọi thương xót người nghèo được thể hiện cách trọn vẹn nơi dụ ngôn về cuộc phán xét chung (x. Mt 25,31–46). Đây cũng là hình ảnh sinh động của Mối Phúc dành cho người biết xót thương. Ở đó, Đức Giêsu trao cho ta chìa khóa để đạt tới sự viên mãn, vì “nếu chúng ta tìm kiếm sự thánh thiện đẹp lòng Thiên Chúa, thì chính đoạn Kinh Thánh này cho ta tiêu chuẩn sống và thước đo mà ta sẽ chịu phán xét.”4 Những lời Tin Mừng này đã quá rõ ràng và mạnh mẽ, chỉ cần đem ra thực hành, chứ không cần giải thích hay biện minh làm giảm nhẹ vấn đề. Chính Chúa đã cho ta thấy hiển nhiên rằng không thể hiểu hay sống cách thánh thiện ngoài những đòi hỏi này.” 5

29. Trong cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, các việc bác ái không dựa trên các nghiên cứu lý thuyết hay dự án cao cấp, mà trực tiếp theo gương Đức Giêsu như được kể lại trong Tin Mừng. Thư thánh Giacôbê dành nhiều đoạn nói đến mối tương quan giữa người giàu và người nghèo, kèm theo hai lời cảnh tỉnh mạnh mẽ: “Này anh chị em của tôi, có ích gì nếu một người nói mình có đức tin mà lại không có hành động? Đức tin đó có thể cứu người ấy được chăng? Giả như có một người anh em hay chị em đang mình trần, thiếu của ăn hằng ngày, rồi ai đó trong anh chị em bảo họ: “Hãy đi bình an, hãy mặc ấm và hãy ăn no”, nhưng anh chị em lại không cho họ những gì cần thiết cho thân xác, thì nào có ích gì? Đức tin cũng thế, nếu không có hành động, thì đức tin tự nó chết đi.” (Gc 2,14–17).

30. Thánh Giacôbê còn nói: “Vàng bạc của các người đã bị rỉ sét, và rỉ sét ấy chính là bằng chứng chống lại các người; nó sẽ như lửa thiêu hủy thân xác các người. Các người đã tích trữ kho tàng cho những ngày sau hết. Này tiền công của những người thợ đã gặt lúa trên cánh đồng các người, song các người đã không chịu trả cho họ, số tiền ấy đang kêu gào, và tiếng kêu than của những thợ gặt đã thấu đến tai Chúa các đạo binh. Các người đã sống sung sướng và trụy lạc nơi trần thế; các người đã nạp đầy lòng các người cho ngày hạ sát” (Gc 5,3–5). Những lời này thật mạnh mẽ biết bao, dù nhiều người vẫn cố tình làm ngơ! Thánh Gioan cũng nói tương tự: “Ai có của cải thế gian và thấy anh chị em mình đang túng thiếu mà khép lòng lại, thì tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy sao được?” (1 Ga 3,17).

31. Sứ điệp Lời Chúa thì “rõ ràng, trực tiếp, đơn sơ và hùng hồn đến mức không ai có quyền giải thích cách tương đối hóa. Giáo hội suy tư về những lời này không nhằm làm lu mờ hay giảm bớt sức mạnh, nhưng thúc giục ta đón nhận và thực hành với lòng can đảm và nhiệt thành. Tại sao lại phức tạp hóa điều vốn quá đơn giản? Các công cụ khái niệm tồn tại là để giúp ta tiếp xúc sâu hơn với những thực tại mà chúng giải thích, chứ không phải để ta xa rời thực tại.”6

32. Thực vậy, Chúng ta thấy cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi là một Giáo hội gương mẫu sáng ngời về việc chia sẻ của cải và chăm sóc người nghèo trong đời sống hằng ngày. Cách riêng, chúng ta nhớ lại cách phân phát lương thực cho các bà góa đã được giải quyết như thế nào (x. Cv 6,1–6). Đây không phải là một vấn đề dễ dàng, phần vì một số các bà góa đến từ những xứ khác, nên đôi khi bị bỏ quên vì là người ngoại quốc. Thực ra, chuyện được kể lại trong sách Công vụ Tông đồ cho thấy có một sự bất bình nơi nhóm người Hy Lạp vốn là những người Do Thái chịu ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp. Các Tông đồ đã không đáp lại bằng những lời lẽ trừu tượng, nhưng đã đặt đức ái với mọi người vào trung tâm, sắp xếp lại việc trợ giúp các bà góa, và mời gọi cộng đoàn chọn ra những người khôn ngoan, được kính trọng, để trao phó việc phân phát lương thực; còn các ngài thì chuyên tâm rao giảng Lời Chúa.

33. Khi thánh Phaolô lên Giêrusalem tham vấn các Tông đồ “để không chạy mà hóa ra luống công” (Gl 2,2), ngài được nhắc nhở “đừng quên người nghèo” (x. Gl 2,10). Vì thế, ngài đã tổ chức nhiều cuộc quyên góp cho các cộng đoàn thiếu thốn. Trong các lý do Phaolô nêu ra, có một điều nổi bật: “vì Thiên Chúa yêu thương người vui vẻ cho đi” (2 Cr 9,7). Chúng ta không dễ thực hiện các cử chỉ nhân hậu và vô vị lợi một cách tự nhiên. Lời Chúa nhắc nhở chúng ta rằng quảng đại đối với người nghèo thực ra lại hữu ích cho chính mình, bởi Thiên Chúa dành một tình yêu đặc biệt cho họ. Quả thật, Kinh Thánh tràn đầy những lời hứa dành cho những ai biết rộng tay chia sẻ với tha nhân: “Thương kẻ khó là cho CHÚA vay mượn/ Được đền bù xứng với việc đã làm.” (Cn 19,17); “Hãy cho thì các con sẽ được cho: một đấu tốt đã dằn, đã lắc và đầy ắp sẽ được đong vào lòng các con, vì các con đong bằng đấu nào, thì cũng sẽ được đong lại bằng đấu ấy” (Lc 6,38); “Bấy giờ ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, và vết thương của ngươi sẽ mau được chữa lành” (Is 58,8). Các Kitô hữu tiên khởi hoàn toàn không hề nghi ngờ về điều này.

34. Đời sống của các cộng đoàn Giáo Hội tiên khởi được thuật lại trong những trang Kinh Thánh. Những trang ấy được truyền lại cho chúng ta như Lời mạc khải của Thiên Chúa. Đó là một mẫu gương để chúng ta noi theo. Đó cũng là một chứng tá sống động của đức tin được thể hiện qua đức ái. Và hơn thế nữa, đó là nguồn cảm hứng bất tật cho các thế hệ mai sau. Những trang này đã làm rung động tâm hồn các Kitô hữu qua các thế kỷ, thúc đẩy họ yêu thương và thực thi các việc bác ái vốn như những hạt giống sinh hoa trái, không ngừng mang lại một mùa gặt dồi dào.

  1. Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 197: AAS 105 (2013), 1102.[]
  2. X. Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Người nghèo lần V (13.06.2021), 3: AAS 113 (2021), 691.[]
  3. Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 186: AAS 105 (2013), 1098.[]
  4. Phanxicô, Tông huấn Gaudete et Exsultate (19.03.2018), 95: AAS 110 (2018), 1137.[]
  5. Sđd., 97: AAS 110 (2018), 1137.[]
  6. Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 194: AAS 105 (2013), 1101.[]
<1 2 34 ... 8>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!