Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

TÔNG HUẤN “TA ĐÃ YÊU CON” (DILEXI TE) CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

 

106. Câu chuyện Người Samaritanô vẫn mang đầy tính thời sự hôm nay.

 

“Nếu tôi gặp một người đang ngủ ngoài trời trong đêm lạnh, tôi có thể coi họ là một kẻ phiền toái, một người lười biếng, một chướng ngại vật, một hình ảnh khó chịu, hay một vấn đề dành cho các chính trị gia giải quyết, thậm chí là một thứ rác rưởi chiếm chỗ nơi công cộng. Nhưng tôi cũng có thể đáp lại bằng đức tin và lòng bác ái, và nhìn nơi người đó một con người có cùng phẩm giá với tôi, một thụ tạo được Thiên Chúa là Cha yêu thương vô hạn, một hình ảnh của Thiên Chúa, một người anh chị em được Đức Kitô cứu chuộc. Đó chính là điều làm nên một Kitô hữu! Liệu sự thánh thiện có thể được hiểu tách biệt khỏi việc nhận biết phẩm giá sống động của mỗi con người hay không?”117

 

107. Những câu hỏi này càng trở nên cấp bách khi ta đối diện với một căn bệnh nghiêm trọng của xã hội hôm nay, thậm chí len lỏi cả trong các cộng đoàn Kitô hữu. Nhiều hình thức dửng dưng đang tràn lan quanh ta thật ra là “dấu hiệu của một lối sống đang lan rộng bằng nhiều cách tinh vi. Khi ta quá bận tâm với nhu cầu của chính mình, hình ảnh một người đang đau khổ khiến ta bối rối, khó chịu, vì ta cho rằng mình không có thời gian để lo chuyện người khác. Đó là triệu chứng của một xã hội bệnh hoạn — một xã hội mưu tìm phồn vinh nhưng quay lưng lại với đau khổ. Chớ gì chúng ta đừng sa xuống vực thẳm như thế! Hãy nhìn

 

116 Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (03.10.2020), 64: AAS 112 (2020), 992.

 

117 Phanxicô, Tông huấn Gaudete et Exsultate (19.03.2018), 98: AAS 110 (2018), 1137.

 

lên gương Người Samaritanô nhân hậu.118 Và lời cuối cùng của dụ ngôn – “Hãy đi và làm như vậy” (Lc 10,37) – vẫn là mệnh lệnh mà mỗi Kitô hữu phải khắc ghi trong lòng hằng ngày.

 

Một thách đố không thể né tránh đối với Giáo hội hôm nay

 

108. Vào một thời điểm đặc biệt khó khăn trong lịch sử Giáo hội Rôma, khi các thể chế đế quốc sụp đổ dưới sức ép của các cuộc xâm lăng man di, Đức Giáo hoàng Grêgôriô Cả đã nhắn nhủ các tín hữu: “Mỗi phút giây, nếu chúng ta chịu tìm, đều có thể gặp được một anh Ladarô; và mỗi ngày, dù không tìm, ta vẫn thấy một người như thế ngay trước cửa nhà mình. Bây giờ, những người hành khất đang vây quanh chúng ta, khẩn xin lòng thương xót; nhưng mai sau, chính họ sẽ biện hộ cho chúng ta… Vì thế, đừng bỏ lỡ cơ hội làm việc bác ái, và đừng cất giữ vô ích những của tốt lành mà anh em đang có.”119 Đức Grêgoriô cũng can đảm lên án những định kiến chống lại người nghèo, đặc biệt là quan niệm cho rằng chính họ phải chịu trách nhiệm về cảnh khốn khổ của mình: “Bất cứ khi nào anh em thấy người nghèo làm điều gì đáng trách, đừng khinh bỉ hay chê trách họ, vì có thể ngọn lửa của cảnh nghèo đang thanh luyện những lỗi lầm của họ, dù chỉ là những lỗi rất nhỏ.”120 Nhiều khi sự phồn vinh khiến ta mù quáng, không còn thấy nhu cầu của người khác, thậm chí nó khiến ta tưởng rằng hạnh phúc và sự viên mãn hoàn toàn do mình, không liên quan người khác. Khi đó, người nghèo hiện diện như người thầy thầm lặng, giúp ta nhận ra sự kiêu ngạo của mình và thấm dần tinh thần khiêm tốn phải lẽ.

 

109. Dĩ nhiên, người giàu có thể giúp người nghèo, nhưng ngược lại cũng không kém phần đúng. Đây là một sự thật sâu xa được toàn bộ truyền thống Kitô giáo xác nhận. Cuộc đời chúng ta có thể đổi thay khi nhận ra rằng người nghèo có nhiều điều để dạy ta về Tin Mừng và những đòi hỏi của Tin Mừng. Bằng chứng tá thầm lặng, họ buộc ta đối diện với sự mong manh của chính kiếp người. Chẳng hạn, sự yếu đuối thể lý của người cao tuổi, nhắc ta nhớ đến sự mỏng dòn của chính mình, dù ta cố che giấu sau vẻ ngoài sung sức và tự tin. Người nghèo cũng giúp ta nhận ra thái độ ngạo mạn vô căn cứ mà ta thường mang theo khi đối diện thử thách. Họ khiến ta thấy rõ sự bất an và trống rỗng ẩn sau cuộc sống tưởng chừng an toàn của mình. Ở đây Thánh Grêgôriô Cả lại nói thật chí lý:

 

“Đừng ai tưởng mình an toàn khi nói rằng: ‘Tôi không trộm cắp của ai. Tôi chỉ hưởng những gì là của mình’. Người phú hộ không bị phạt vì đã cướp của người khác, nhưng bởi vì khi mải chiếm hữu của cải, tâm hồn ông đã trở nên bần cùng. Đó mới thực là điều khiến ông bị luận phạt: sống trong sung túc, ông không còn

 

118 Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (03.10.2020), 65–66: AAS 112 (2020), 992.

 

119 Grêgôriô Cả, Homilia 40,10: SC 522, Paris 2008, 552–554.

 

120 Sđd., 6: SC 522, 546.

 

cảm thức công bằng; giàu sang phú quý đã khiến ông tự mãn và đánh mất lòng trắc ẩn.”121

 

110. Với người Kitô hữu chúng ta, vấn đề người nghèo chạm đến trọng tâm đức tin của chúng ta. Thánh Gioan Phaolô II đã dạy rằng chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo, tức là Giáo hội yêu thương người nghèo, “là yếu tố cốt yếu của Giáo hội và thuộc về truyền thống thường hằng, thúc đẩy Giáo hội quan tâm đến một thế giới đang đối diện với nạn nghèo lan rộng, bất chấp những tiến bộ kỹ thuật và kinh tế.”122 Với người Kitô hữu, người nghèo không phải là một phạm trù xã hội học, nhưng là “xác thịt” của chính Đức Kitô. Chỉ tuyên xưng mầu nhiệm Nhập Thể cách trừu tượng thì không đủ; để thực sự đi vào mầu nhiệm ấy, ta phải nhận ra rằng Chúa đã mang lấy một thân xác biết đói, biết khát, biết yếu đau và bị giam cầm.

 

“Một Giáo hội nghèo vì người nghèo bắt đầu bằng việc chạm đến chính thân xác của Đức Kitô. Khi ta dám chạm đến thân xác đó, ta bắt đầu hiểu được phần nào sự nghèo khó của Chúa, vốn là điều không dễ thấu hiểu chút nào.”123

 

111. Bản chất của Giáo hội là liên đới với người nghèo, với những ai bị loại trừ, bị gạt ra bên lề, và với mọi người bị xem là cùng đinh của xã hội. Người nghèo ở trung tâm đời sống của Giáo hội, bởi vì “tin vào Đức Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó và luôn gần gũi với những người nghèo và bị ruồng bỏ, chính là nền tảng để chúng ta quan tâm đến sự phát triển toàn diện của những thành phần bị lãng quên nhất trong xã hội”124

 

Trong lòng mỗi người chúng ta, vang lên lời mời gọi “phải lắng nghe tiếng khẩn cầu đó — một tiếng nói được sinh ra từ hành động giải thoát của ân sủng nơi từng người. Vì thế, đây không phải là một sứ mạng dành riêng cho một vài người, nhưng là lời mời gọi chung cho tất cả”125

 

112. Nhiều khi, có những phong trào hay nhóm Kitô hữu, ít quan tâm hoặc thậm chí thờ ơ trước công ích xã hội, nhất là đối với những người yếu thế và dễ bị tổn thương nhất. Nhưng chúng ta không bao giờ được quên rằng tôn giáo – đặc biệt là Kitô giáo – không thể bị giới hạn trong phạm vi riêng tư, như thể người tín hữu không có quyền lên tiếng về những vấn đề ảnh hưởng đến xã hội dân sự và những mối quan tâm chung của con người.126

 

113. Thật vậy, “bất kỳ cộng đoàn Giáo hội nào nếu tự mãn đi theo đường riêng của mình, không có mối quan tâm sáng tạo và cộng tác cụ thể để giúp người nghèo

 

121 Sđd., 3: SC 522, 536.

 

122 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (01.05.1991), 57: AAS 83 (1991), 862–863.

 

123 Phanxicô, Canh thức Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống với các Phong trào Giáo hội (18.05.2013): L’Osservatore Romano, 20–21.05.2013, tr. 5.

 

124 Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 186: AAS 105 (2013), 1098.

 

125 Sđd., 188: AAS 105 (2013), 1099.

 

126 X. sđd., 182–183: AAS 105 (2013), 1096–1097.

 

sống xứng đáng và mở rộng vòng tay đến với mọi người, thì sẽ sớm suy yếu, cho dù có nói nhiều về các vấn đề xã hội hay chỉ trích chính quyền đến đâu đi nữa. Một cộng đoàn như thế sẽ dễ trượt vào thứ thế tục tinh thần, được che đậy bằng các hình thức đạo đức, các buổi họp vô bổ và những lời nói trống rỗng.”127

 

114. Đó không chỉ là việc trợ cấp hay bảo đảm công bằng xã hội. Kitô hữu còn phải nhận ra một thiếu sót khác trong cách mình đối xử với người nghèo: Trên thực tế,“Sự phân biệt đối xử tệ hại nhất mà người nghèo phải chịu, đó là thiếu sự chăm sóc thiêng liêng… Chọn lựa ưu tiên cho người nghèo trước hết phải được thể hiện bằng việc chăm sóc tôn giáo đặc biệt và ưu tiên dành cho họ.”128

 

Tuy nhiên, sự chăm sóc thiêng liêng ấy lại thường bị xem nhẹ, ngay cả giữa các Kitô hữu, do thành kiến và thói quen làm ngơ trước người nghèo. Có người nói: “Bổn phận của chúng ta là cầu nguyện và dạy giáo lý đúng đắn.” Họ tách đời sống thiêng liêng khỏi sự phát triển toàn diện, và cho rằng việc chăm sóc người nghèo là nhiệm vụ của chính phủ, hoặc chỉ nên dạy họ cách làm việc chứ không cần giúp họ thoát đói nghèo. Đôi khi, người ta dựa vào những dữ liệu có vẻ khoa học để biện minh rằng nền kinh tế thị trường tự do sẽ tự động giải quyết được vấn đề nghèo đói. Thậm chí, có người còn cho rằng nên tập trung mục vụ cho giới gọi là “tinh hoa”, vì cho rằng dành thời gian cho người nghèo là lãng phí, trong khi chăm sóc người giàu, người có ảnh hưởng hay giới chuyên môn sẽ mang lại kết quả thiết thực hơn và giúp Giáo hội được bảo đảm, an toàn hơn. Thật dễ nhận ra tinh thần thế tục ẩn sau những quan điểm này— một lối nhìn thiển cận, thiếu ánh sáng từ trên cao, chỉ biết duy trì những mối quan hệ đem lại cảm giác an toàn và vị thế đặc quyền cho bản thân.

 

Việc bố thí hôm nay

 

115. Tôi muốn kết thúc bằng đôi lời về việc bố thí, một việc ngày nay không còn được nhìn nhận tích cực, ngay cả giữa các tín hữu. Nhiều người không thực hành, thậm chí xem thường việc đó. Tôi xin nhắc lại: cách giúp người nghèo hiệu quả nhất là giúp họ có công việc ổn định, để họ sống xứng đáng, phát triển khả năng bản thân và đóng góp cho xã hội.

 

“Thiếu việc làm không chỉ là thiếu thu nhập. Làm việc không chỉ để kiếm sống, mà còn giúp con người trở nên hoàn thiện, phát triển nhân tính, và người trẻ trưởng thành qua lao động. Học thuyết của Giáo hội về xã hội luôn coi lao động là cộng tác với công trình sáng tạo của Thiên Chúa, vẫn tiếp diễn mỗi ngày nhờ bàn tay, khối óc và trái tim của những người lao động.”129

 

127 Sđd., 207: AAS 105 (2013), 1107.

 

128 Sđd., 200: AAS 105 (2013), 1104.

 

129 Phanxicô, Diễn văn tại cuộc gặp với giới lao động tại Nhà máy Ilva, Genova (27.05.2017): AAS 109 (2017), 613.

 

Mặt khác, khi không thể có được việc làm, chúng ta không thể bỏ mặc những ai thiếu điều kiện sống xứng đáng. Vì thế, việc bố thí vẫn còn cần thiết, như một cách tiếp xúc, gặp gỡ và cảm thông với người kém may mắn hơn.

 

116. Những ai được thúc đẩy bởi tình bác ái đích thực hiểu rõ rằng việc bố thí không miễn trừ trách nhiệm của các cơ quan công quyền, cũng không thay thế bổn phận của nhà nước trong việc chăm lo cho người nghèo, hay làm giảm giá trị của nỗ lực kiến tạo công bằng xã hội.

 

Bố thí là một cơ hội để dừng lại bên người nghèo, nhìn vào mắt họ, chạm đến họ, và chia sẻ chính bản thân mình với họ. Dù khiêm tốn, một hành vi bố thí nhỏ vẫn mang lại nét nhân ái thương cảm (pietas) giữa một xã hội bị chi phối bởi lòng tham và chủ nghĩa hưởng thụ. “Người quảng đại sẽ được chúc phúc/Bởi chia cơm sẻ áo cho người nghèo.” (Cn 22,9)

 

117. Cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều ca ngợi việc bố thí như một hình thức thờ phượng cao quý: “Hãy kiên nhẫn với người sống cảnh nghèo hèn, và đừng để họ phải chờ đợi của bố thí… Hãy tích trữ việc bố thí trong kho của con, vì nó sẽ cứu con khỏi mọi tai họa.” (Hc 29,8.12)

 

Và chính Đức Giêsu dạy: Hãy bán tài sản của các con mà bố thí. Hãy sắm cho mình những túi tiền không thể cũ nát, một kho tàng không hao hụt ở trên trời, nơi trộm cướp không tới được và mối mọt không đục phá được.” (Lc 12,33)

 

118. Thánh Gioan Kim Khẩu từng nói: “Bố thí là đôi cánh của lời cầu nguyện. Cầu nguyện không có đôi cánh, khó mà bay cao được.”130

 

Tương tự, Thánh Grêgôriô Nazianzô đã kết thúc một bài giảng nổi tiếng bằng lời kêu gọi: “Nếu anh chị em cho rằng tôi có điều gì đáng nói, hỡi các tôi tớ của Đức Kitô, là anh chị em và đồng thừa tự của Ngài, chúng ta hãy đến thăm Đức Kitô bất cứ khi nào có thể; hãy chăm sóc Ngài, nuôi Ngài, mặc áo cho Ngài, đón tiếp và tôn vinh Ngài. Đừng chỉ làm như một số người đã yêu Đức Kitô cách nửa vời, khi mời Ngài dùng bữa, hay như Maria đã xức dầu cho Ngài, hoặc như Giuse Arimathêa đã cho Ngài mượn ngôi mộ, hay như Nicôđêmô đã chuẩn bị việc mai táng cho Ngài; cũng đừng chỉ dâng vàng, nhũ hương và mộc dược như ba nhà đạo sĩ thuở xưa. Chúa Tể muôn loài không đòi hy lễ, nhưng muốn lòng xót thương. Vậy, chúng ta hãy thể hiện lòng xót thương đó nơi người nghèo, nơi người hôm nay đang nằm trên mặt đất, để khi chúng ta rời khỏi thế gian này, chính họ sẽ đón chúng ta vào nơi vĩnh cửu.”131

 

119. Tình yêu và niềm xác tín của chúng ta cần được nuôi dưỡng liên tục, và điều đó chỉ có thể thực hiện qua hành động cụ thể. Nếu ta chỉ dừng lại ở ý tưởng và lý

 

130 Ngụy-Kim Khẩu, Homilia de Jejunio et Eleemosyna: PG 48, 1060.

 

131 Grêgôriô Nazianzô, Oratio XIV, 40: PG 35, Paris 1886, 910.

 

thuyết, mà không thể hiện bằng những hành vi bác ái cụ thể, thì ngay cả niềm tin và hy vọng sâu nhất cũng sẽ dần phai nhạt. Vì thế, người Kitô hữu không được bỏ quên việc bố thí. Dù cách thực hiện có thể khác nhau, và hiệu quả chắc chắn tốt hơn, thì bố thí vẫn phải được tiếp tục. Làm điều gì đó, dù nhỏ, vẫn tốt hơn là không làm gì cả. Dù không thể xóa bỏ hoàn toàn nạn nghèo đói, bố thí vẫn là phương thế cần thiết, phải được thực hiện với sự khôn ngoan, tận tâm và trách nhiệm xã hội. Phần chúng ta, bố thí là cách để chạm đến thân thể đau khổ của người nghèo.

 

120. Tình yêu Kitô giáo phá tan mọi ranh giới, làm cho người xa lạ trở nên gần gũi, nối kết đôi bên xa lạ, và hòa giải cả thù địch. Tình yêu đó giúp vượt qua những hố sâu mà con người không thể vượt qua, và len lỏi đến tận những hang cùng ngõ hẻm của xã hội. Bản chất của tình yêu Kitô giáo là ngôn sứ: làm nên những điều kỳ diệu, không biên giới, và biến điều tưởng chừng không thể thành hiện thực.

 

Trên hết, yêu là một cách nhìn cuộc sống và một cách sống cuộc đời. Một Giáo hội không đặt giới hạn cho tình yêu, không coi ai là kẻ thù để chống lại, mà chỉ thấy nơi họ những người nam nữ để yêu thương, chính là Giáo hội mà thế giới hôm nay đang cần đến.

 

121. Qua việc anh chị em làm, qua nỗ lực thay đổi những cơ cấu gây ra bất công xã hội, hay đơn giản qua một cử chỉ từ tấm lòng đơn sơ, chân thành, gần gũi và nâng đỡ người nghèo, họ sẽ nhận ra những Lời Chúa Giêsu đang nói với từng người trong họ: “Ta đã yêu con.” (Kh 3,9)

 

Ban hành tại Rôma, tại Đền Thánh Phêrô,
N
gày 4 tháng 10, lễ kính thánh Phanxicô Assisi, năm 2025,
Năm đầu triều đại của tôi.

Lêô XIV

 

Đình Chẩn chuyển ngữ

 

 

Nội dung trang này
<1 ... 67 8
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!