CHƯƠNG III
MỘT GIÁO HỘI DÀNH CHO NGƯỜI NGHÈO
35. Ba ngày sau khi được bầu, vị tiền nhiệm của tôi đã bày tỏ với các đại diện truyền thông ước muốn rằng việc chăm lo và quan tâm đến người nghèo phải được thể hiện rõ ràng hơn trong đời sống của Giáo hội: “Tôi mong có một Giáo Hội nghèo và cho người nghèo!”1
36. Ước muốn này cho thấy rằng Giáo hội “nhận ra nơi những người nghèo và đau khổ hình ảnh của chính Đấng Sáng Lập, Đấng đã sống nghèo và chịu đau khổ.”2 Thật vậy, vì Giáo hội được mời gọi để đồng hóa chính mình với những người bé mọn nhất, nên nơi thẳm sâu của mình, “Không thể có chỗ cho hoài nghi hay cho những cách giải thích làm suy yếu sứ điệp rõ ràng đó… Chúng ta phải nói thẳng rằng có một mối dây bất khả phân ly giữa đức tin của chúng ta và người nghèo.”3 Về điều này, chúng ta có vô vàn chứng nhân là các môn đệ của Đức Kitô suốt gần hai ngàn năm qua.4
Kho tàng đích thực của Giáo hội
37. Thánh Phaolô cho biết: trong cộng đoàn Kitô hữu sơ khai, “không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, không có nhiều người quyền thế, cũng không có nhiều người xuất thân cao quý” (1 Cr 1,26). Tuy sống trong cảnh nghèo, họ vẫn ý thức rõ bổn phận chăm sóc những người túng thiếu hơn mình. Ngay từ thuở ban đầu, các Tông đồ đã chọn bảy người trong cộng đoàn, đặt tay trên họ và giao phó cho họ việc phục vụ, trong tiếng Hy Lạp gọi là diakonía, đặc biệt dành cho những người nghèo (x. Cv 6,1–5). Đáng chú ý là người đầu tiên đổ máu mình làm chứng cho Đức Kitô lại chính là thánh Stêphanô, một trong nhóm bảy người này. Nơi ngài, chứng tá phục vụ người nghèo và chứng tá tử đạo gặp nhau trong một đức tin duy nhất.
38. Gần hai thế kỷ sau, một phó tế khác — thánh Laurensô — cũng làm chứng cho Đức Kitô theo cùng một cách thế. Ngài kết hợp phúc tử đạo với việc phục vụ người nghèo.5 Theo lời thánh Ambrôsiô, Laurensô là phó tế Rôma dưới triều Đức Giáo hoàng Xíttô II. Ngài bị chính quyền buộc phải giao nộp các kho tàng của Giáo hội. Ngày hôm sau, Laurensô dẫn theo những người nghèo đến trước mặt họ. Khi bị hỏi về kho báu đã hứa, ngài chỉ vào đoàn người nghèo và nói: “Đây chính là những kho tàng của Giáo hội.”6
Thánh Ambrôsiô kể lại và đặt câu hỏi: “Chúa Giêsu có kho tàng nào quý hơn những người mà Ngài vui thích tỏ mình ra với họ chăng?”7 Ngài còn nhắc nhở rằng: các thừa tác viên của Giáo hội không bao giờ được quên chăm lo cho người nghèo, lại càng không được tích trữ của cải cho riêng mình. Ngài nói:“Công việc này phải được thực hiện với lòng tin chân thành và sự khôn ngoan sáng suốt. Nếu ai trục lợi cho bản thân, người ấy phạm tội; nhưng nếu phân phát cho người nghèo hoặc chuộc lại tù nhân, người ấy đã làm một việc thương xót.”8
Các Giáo Phụ và người nghèo
39. Ngay từ những thế kỷ đầu, các Giáo Phụ đã nhận ra nơi người nghèo một con đường đặc biệt để gặp gỡ Thiên Chúa. Lòng bác ái dành cho người túng thiếu không chỉ là một nhân đức luân lý. Đó còn là biểu hiện cụ thể của đức tin vào Ngôi Lời nhập thể. Cộng đoàn tín hữu, được Thánh Thần nâng đỡ, đặt nền tảng đời sống mình trong sự gần gũi với người nghèo. Họ không coi người nghèo như thành phần phụ, nhưng như một phần thiết yếu trong Thân Thể sống động của Đức Kitô. Chẳng hạn, khi tiến ra pháp trường, thánh Inhaxiô Antiôkia đã nhắn nhủ cộng đoàn Smyrna: Đừng lơ là việc thi hành lòng bác ái với những người túng thiếu nhất. Ngài cảnh báo họ đừng bắt chước những kẻ chống lại Thiên Chúa: “Hãy nhìn xem những người có quan điểm khác về ân sủng Đức Kitô — họ đi ngược ý Thiên Chúa thế nào. Họ không biết yêu thương; không quan tâm đến người góa phụ, trẻ mồ côi, kẻ bị áp bức; không đoái hoài đến người nô lệ hay người tự do; kẻ đói hay người khát.”9
Còn thánh Polycarp, Giám mục Smyrna, dạy rằng: “Các linh mục cần phải biết cảm thông và nhân hậu với mọi người, đưa những kẻ lạc đường trở lại, thăm viếng mọi người đau yếu, không bỏ quên người góa bụa, trẻ mồ côi hay người nghèo. Và phải luôn chu toàn mọi việc sao cho xứng hợp trước mặt Thiên Chúa và loài người..”10
Qua hai chứng nhân này, ta thấy Giáo hội xuất hiện như người mẹ của kẻ nghèo. Đó là nơi đón tiếp và thực thi công bình.
40. Về phần mình, thánh Giustinô, trong tác phẩm Hộ giáo đầu tiên gửi hoàng đế Adrianô cùng Thượng viện và dân Rôma, giải thích rằng người Kitô hữu chia sẻ tất cả những gì họ có cho người túng thiếu, vì họ coi mọi người như anh chị em trong Đức Kitô. Khi mô tả buổi cử hành phụng vụ ngày Chúa nhật, ngài nhấn mạnh rằng: Việc thờ phượng Thiên Chúa không thể tách rời khỏi sự quan tâm đến người nghèo. Thế rồi đến một thời điểm trong buổi cử hành: “Những ai khá giả và tự nguyện, thì góp phần mình. Tất cả phần quyên góp được trao cho vị chủ tọa, để giúp cho trẻ mồ côi, góa phụ, người bệnh tật, người túng thiếu, tù nhân, khách lạ sống giữa chúng ta — nói tóm lại, mọi người đang cần giúp.”11 Điều này cho thấy: Giáo hội sơ khai không tách đức tin khỏi hành động xã hội. Đức tin mà không có việc làm cụ thể thì là đức tin chết, như thánh Giacôbê đã dạy (x. Gc 2,17).
Thánh Gioan Kim Khẩu
41. Trong số các Giáo Phụ Đông phương, vị rao giảng hăng say nhất về công bình xã hội là thánh Gioan Kim Khẩu, Tổng Giám mục Constantinopolis (thế kỷ IV–V). Trong các bài giảng, ngài luôn mời gọi tín hữu nhận ra Đức Kitô nơi người túng thiếu: “Anh chị em có muốn tôn kính Thân Thể Đức Kitô không? Đừng để thân thể đó bị khinh rẻ nơi các chi thể — tức là những người nghèo, trần truồng, không áo che thân. Đừng tôn kính Đức Kitô trong nhà thờ bằng vải lụa, rồi bên ngoài lại để Ngài run rét trong đói lạnh… Thân thể Đức Kitô trên bàn thờ không cần áo choàng, nhưng cần tâm hồn tinh sạch; còn thân thể Ngài nơi người nghèo thì cần được chăm sóc. Hãy học cách tôn kính Đức Kitô như Ngài mong muốn. Vì cách tôn kính đẹp lòng Ngài nhất là thực hiện điều Ngài muốn, chứ không phải điều ta nghĩ ra… Hãy để người nghèo được hưởng phúc từ của cải của anh chị em. Thiên Chúa không cần bình vàng, nhưng cần tấm lòng vàng.”12
Ngài nói rõ: nếu tín hữu không gặp được Đức Kitô nơi người nghèo ở cửa nhà mình, thì họ cũng không thể thờ phượng Ngài trên bàn thờ. “Ích gì cho Đức Kitô khi bàn thờ phủ đầy chén vàng, mà chính Ngài đang chết đói trong thân phận người nghèo? Hãy nuôi kẻ đói trước đã, rồi hãy trang hoàng bàn thờ bằng phần còn lại.”13
Với Gioan Kim Khẩu, Thánh Thể là biểu hiện bí tích của lòng bác ái và công bình. Hai nhân đức ấy phải đi trước, đi cùng và tiếp nối Thánh Thể bằng tình yêu dành cho người nghèo.
42. Vì thế, bác ái không phải là tùy chọn, mà là điều kiện của việc thờ phượng đích thực. Thánh Gioan Kim Khẩu mạnh mẽ lên án sự giàu có xa hoa đi đôi với thái độ dửng dưng trước người nghèo. Ngài dạy: quan tâm đến họ không chỉ là bổn phận xã hội, mà là điều kiện để được cứu độ. Sự giàu có bất chính trở thành án phạt cho chính kẻ sở hữu nó.
“Trời rất lạnh, người nghèo nằm co ro trong rách nát, sắp chết cóng. Còn bạn, mặt đỏ vì rượu, lại thản nhiên bước qua. Làm sao bạn mong Thiên Chúa cứu mình khỏi tai họa?… Bạn trang điểm cho một xác chết không còn biết gì bằng lụa là gấm vóc, nhưng lại khinh thường người đang đau khổ, đói rét, rách rưới.”14
Từ đó, ngài khẳng định một cách dứt khoát: “Không chia sẻ cho người nghèo chính là ăn cắp của họ, là tước đoạt sự sống của họ, vì những gì ta có thật ra là của họ.”15
Thánh Augustinô
43. Vị linh hướng của thánh Augustinô, là thánh Ambrôsiô, đã nhấn mạnh đến đòi hỏi luân lý của việc chia sẻ của cải vật chất: “Điều anh trao cho người nghèo không phải là của riêng anh, mà là của họ. Tại sao anh lại chiếm đoạt điều vốn được ban cho mọi người dùng chung?”16 Đối với Giám mục Milano, việc bố thí không phải là hành động ban ơn hay thương hại, mà là việc khôi phục công bằng. Trong lời giảng, lòng thương xót mang chiều kích ngôn sứ: ngài tố cáo những cơ cấu tích trữ của cải và khẳng định rằng hiệp thông là ơn gọi đích thực của Giáo hội.
44. Được đào luyện trong truyền thống ấy, thánh Augustinô – Giám mục Hippo – đã dạy về tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo. Là một mục tử tỉnh thức và nhà thần học sâu sắc, ngài nhận ra rằng: hiệp thông đích thực trong Giáo hội cũng được thể hiện qua việc hiệp thông chia sẻ của cải. Trong Chú giải Thánh Vịnh, ngài nhắc các tín hữu: “Khi quan sát anh chị em mình, anh chị em biết họ đang túng thiếu; nhưng nếu Đức Kitô ngự trong lòng anh chị em, thì anh chị em cũng hãy biết quảng đại với cả người xa lạ.”17 Việc chia sẻ phát xuất từ đức ái thần học và quy hướng về chính Đức Kitô là cùng đích. Đối với Augustinô, người nghèo không chỉ là đối tượng để giúp đỡ, mà còn là sự hiện diện mang tính bí tích của chính Chúa.
45. Vị “Tiến sĩ Ân sủng” coi việc chăm sóc người nghèo là bằng chứng cụ thể của đức tin chân thành. Ai nói rằng mình yêu mến Thiên Chúa mà lại không chạnh lòng thương người túng thiếu là kẻ nói dối (x. 1 Ga 4,20). Khi suy niệm về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người thanh niên giàu có, cùng lời hứa “kho tàng trên trời” dành cho ai chia sẻ của cải với người nghèo (x. Mt 19,21), thánh Augustinô đặt những lời này vào miệng Chúa:
“Ta đón nhận trần gian, Ta sẽ ban Nước trời;
Ta đón nhận của phù du, Ta sẽ ban lại của vĩnh hằng;
Ta đón nhận bánh ăn, Ta sẽ ban sự sống.
Ta được tiếp đón, Ta sẽ ban mái nhà;
Ta được thăm viếng, Ta sẽ ban sức khỏe;
Ta được viếng thăm khi ở tù, Ta sẽ ban tự do.
Tấm bánh con cho người nghèo của Ta sẽ được tiêu hóa,
nhưng tấm bánh Ta ban sẽ không chỉ làm con no thoả,
mà còn không bao giờ hết.”18
Thiên Chúa Toàn Năng không bao giờ thua ta về lòng quảng đại: càng yêu thương người nghèo, ta càng được Thiên Chúa thưởng công lớn lao.
46. Cái nhìn quy hướng về Đức Kitô và thấm đượm tinh thần Giáo hội giúp ta hiểu rằng: khi phát xuất từ tình yêu, của dâng không chỉ đáp ứng nhu cầu của người khác, mà còn thanh luyện chính tâm hồn người cho, nếu họ sẵn lòng hoán cải. Quả thật, theo lời ngụy danh-Augustinô: “Việc bố thí có thể giúp anh được tha tội đã qua, nếu anh thực sự đổi mới đời sống mình.”19 Nói cách khác, đó là con đường hoán cải bình thường cho những ai muốn theo Đức Kitô với con tim không chia sẻ.
47. Tư tưởng của thánh Augustinô vẫn luôn là ngọn đèn soi sáng chắc chắn trong một Giáo hội mà dung mạo Đức Kitô được nhận ra nơi người nghèo, và của cải vật chất được coi như phương thế của đức ái. Ngày nay, trung thành với giáo huấn của ngài không chỉ là học hỏi các tác phẩm, mà còn là sẵn sàng sống triệt để lời mời gọi hoán cải, một lời mời gọi luôn gắn liền với việc phục vụ trong đức ái.
48. Nhiều Giáo phụ, cả Đông phương và Tây phương, đã nói về việc ưu tiên phải quan tâm đến người nghèo trong đời sống và sứ mạng của mỗi Kitô hữu. Từ góc nhìn ấy, có thể tóm lại như sau: Thần học thời các Giáo phụ là thực hành. Mục tiêu là một Giáo hội nghèo và vì người nghèo. Tin Mừng được loan báo đúng đắn khi thúc đẩy ta chạm đến xác phàm của những người bé mọn nhất. Khắt khe giáo lý mà không có lòng thương xót thì chỉ là lời trống rỗng.
Chăm sóc người ốm đau
49. Lòng trắc ẩn Kitô giáo tỏ hiện cách đặc biệt trong việc chăm sóc người ốm yếu và khổ đau. Những dấu chỉ trong sứ vụ công khai của Chúa Giêsu là chữa lành người mù, người cùi, người bại liệt. Vì thế, việc chăm sóc và nhận ra dung mạo Chúa chịu đóng đinh nơi bệnh nhân là phần quan trọng trong sứ mạng của Giáo hội. Trong một trận dịch tại Carthage, thánh Cyprianô nhắc các Kitô hữu phải chăm sóc bệnh nhân: “Cơn ôn dịch này, tuy xem ra thật khủng khiếp và chết chóc, đang dò xét sự công chính của từng người. Nó đang tra vấn tâm trí nhân loại. Nó xem người khỏe có phục vụ kẻ đau bệnh không. Nó xem thân quyến có yêu thương nhau cách chân thành không. Nó xem chủ có thương xót những đầy tớ của mình đau ốm không. Nó xem thầy thuốc có không bỏ rơi những bệnh nhân đang khẩn khoản xin giúp đỡ không” 20. Truyền thống Kitô hữu viếng kẻ liệt, rửa vết thương, an ủi người sầu khổ không chỉ là việc từ thiện; đó là hành động mang tính Giáo hội, qua đó các tín hữu chạm vào thân thể đau khổ của Đức Kitô 21.
50. Thế kỷ XVI, thánh Gioan Thiên Chúa lập Dòng Trợ Thế và xây các bệnh viện đón mọi người không phân biệt; khẩu hiệu “Hỡi anh em, hãy làm việc thiện!” trở thành lời gọi đức ái hành động. Cùng thời, thánh Camillô de Lellis lập Dòng Camillô, Tác viên Mục vụ Bệnh nhân, dấn thân trọn vẹn phục vụ bệnh nhân; Luật dòng dạy rằng: “Mỗi người hãy xin Chúa ban cho mình một tấm lòng yêu thương người lân cận như tình mẫu tử, để chúng ta có thể phục vụ họ với tất cả lòng bác ái, cả về phần hồn lẫn phần xác. Chúng ta ước muốn, nhờ ơn Chúa, được phục vụ mọi bệnh nhân với tình cảm mà một người mẹ hiền dành cho đứa con duy nhất đang đau ốm của mình.” 22. Ở bệnh viện, chiến trường, nhà tù, đường phố, các tu sĩ Camillô đã trở nên hiện thân lòng thương xót của Chúa Giêsu, vị Lương Y.
51. Với tình yêu mẫu tử, chăm sóc bệnh nhân như một người mẹ chăm con mình, biết bao nữ tu tận hiến đã đóng vai trò to lớn trong việc chăm sóc y tế cho người nghèo. Các hội dòng như Nữ tử Bác Ái thánh Vinh Sơn Phaolô, Nữ tu Nhà Thương, các Tiểu Muội Chúa Quan Phòng, cùng nhiều dòng nữ khác, đã trở nên sự hiện diện hiền mẫu và âm thầm nơi bệnh viện, nhà dưỡng lão và các trung tâm chăm sóc người cao tuổi.
Các chị mang đến niềm an ủi, lắng nghe, hiện diện, và trên hết là sự dịu dàng đầy nhân ái. Nhiều nơi, họ tự tay xây dựng các cơ sở y tế ngay trong vùng thiếu thốn dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dạy người dân giữ vệ sinh, hộ sản cho các bà mẹ nghèo, và phát thuốc cách khôn ngoan tự nhiên cùng lòng tin sâu sắc. Nhà các sơ trở thành ốc đảo của phẩm giá, nơi không ai bị loại trừ. Cái chạm của lòng cảm thông chính là liều thuốc đầu tiên. Thánh nữ Louise de Marillac đã viết cho các chị em Nữ tử Bác Ái, nhắc họ rằng: “Chị em đã được Thiên Chúa chúc phúc cách đặc biệt để phục vụ những người nghèo đau yếu trong các bệnh viện.” 23.
- Phanxicô, Buổi gặp gỡ các đại diện truyền thông (16.03.2013): AAS 105 (2013), 381.[↩]
- Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 8.[↩]
- Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 48: AAS 105 (2013), 1040.[↩]
- Trong chương này chỉ nêu vài chứng nhân để cho thấy việc chăm sóc người nghèo luôn là nét đặc trưng của sự hiện diện Giáo hội trong thế giới (không mang tính toàn diện). Xem thêm: V. Paglia, Storia della povertà, Milan 2014.[↩]
- X. Ambrôxiô, De officiis ministrorum I, 41, 205–206: CCSL 15, Turnhout 2000, 76–77; II, 28, 140– 143: CCSL 15, 148–149.[↩]
- Sđd., II, 28, 140: CCSL 15, 148.[↩]
- Sđd.[↩]
- Sđd., II, 28, 142: CCSL 15, 148.[↩]
- Ignatiô Antiôkia, Epistula ad Smyrnaeos, 6,2: SC 10bis, Paris 2007, 136–138.[↩]
- Polycarp, Epistula ad Philippenses, 6,1: SC 10bis, 186.[↩]
- Giustino, Apologia prima, 67, 6–7: SC 507, Paris 2006, 310.[↩]
- Gioan Kim Khẩu, Homiliae in Matthaeum, 50,3: PG 58, Paris 1862, 508.[↩]
- Sđd., 50,4: PG 58, 509.[↩]
- Gioan Kim Khẩu, Homilia in Epistula ad Hebraeos, 11,3: PG 63, Paris 1862, 94.[↩]
- Gioan Kim Khẩu, Homilia II De Lazaro, 6: PG 48, Paris 1862, 992.[↩]
- Ambrôxiô, De Nabuthae, 12,53: CSEL 32/2, Prague–Vienna–Leipzig 1897, 498.[↩]
- [35] Augustinô, Enarrationes in Psalmos, 125,12: CSEL 95/3, Vienna 2001, 181.[↩]
- Augustinô, Sermo LXXXVI, 5: CCSL 41Ab, Turnhout 2019, 411–412. [↩]
- Ngụy-Augustinô, Sermo CCCLXXXVIII, 2: PL 39, Paris 1862, 1700.[↩]
- Cyprianô, De mortalitate, 16: CCSL 3A, Turnhout 1976, 25.[↩]
- Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Bệnh nhân lần 30 (10.12.2021), 3: AAS 114 (2022), 51.[↩]
- Camillô de Lellis, Quy luật Dòng Tôi tớ Bệnh nhân, 27: M. Vanti (chủ biên), Scritti di San Camillo de Lellis, Milan 1965, 67.[↩]
- Louise de Marillac, Thư gửi sơ Claudia Carré và Maria Gaudoin (28.11.1657): E. Charpy (chủ biên), Sainte Louise de Marillac. Écrits, Paris 1983, 576.[↩]