Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

TÔNG HUẤN “TA ĐÃ YÊU CON” (DILEXI TE) CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

 

Các phong trào bình dân

80. Chúng ta cũng cần nhìn nhận rằng, trong suốt dòng lịch sử Kitô giáo, việc trợ giúp và bảo vệ quyền lợi của người nghèo không chỉ liên quan đến các cá nhân, gia đình, tổ chức hay cộng đoàn tu trì. Có nhiều phong trào bình dân được hình thành và lãnh đạo bởi những người giáo dân dấn thân vì công ích. Nhiều phong trào như thế đã từng bị nghi ngờ hoặc thậm chí bị bách hại. Tôi đang nói đến “những người cùng nhau lên đường, không đơn lẻ, nhưng trong một cộng đoàn gắn bó của mọi người và vì mọi người, không bỏ rơi người nghèo và những người dễ bị tổn thương…Những nhà lãnh đạo bình dân là những người có khả năng quy tụ tất cả mọi người…, không xa lánh cũng không sợ những người trẻ đã từng bị tổn thương hay mang vác thập giá cuộc đời.1

81. Những người lãnh đạo bình dân này hiểu rằng tình liên đới “cũng có nghĩa là chiến đấu chống lại những nguyên nhân cơ cấu gây ra nghèo đói và bất công; chống lại nạn thất nghiệp, thiếu đất đai, thiếu nhà ở, và sự chối bỏ các quyền xã hội và lao động. Tình liên đới còn đòi hỏi phải đương đầu với hậu quả tàn phá bởi ‘đế quốc tiền bạc’… Hiểu theo nghĩa sâu xa nhất, tình liên đới là một cách viết nên lịch sử. Đó là điều mà các phong trào bình dân đang thực hiện.”2 Vì thế, khi các thể chế khác nhau suy tư về nhu cầu của người nghèo, điều quan trọng là phải “bao gồm các phong trào bình dân và thổi vào các cơ cấu quản trị địa phương, quốc gia và quốc tế dòng năng lượng luân lý dồi dào, bắt nguồn từ việc đưa những người bị loại trừ trở lại tiến trình xây dựng vận mệnh chung.”3 Thực vậy, các phong trào bình dân mời gọi chúng ta vượt qua “lối nghĩ cho rằng chính sách xã hội chỉ là ‘chính sách dành cho người nghèo’, nhưng không bao giờ ‘với người nghèo’ hay ‘do người nghèo’, và càng không phải là một dự án có thể thực sự hiệp nhất con người lại với nhau.”4 Nếu các chính trị gia và chuyên gia không biết lắng nghe tiếng nói của họ, thì “nền dân chủ sẽ bị teo lại, biến thành khẩu hiệu trống rỗng hoặc hình thức bề ngoài; nó đánh mất tính đại diện thực sự, vì đã gạt ra bên lề những con người đang hằng ngày đấu tranh cho phẩm giá và tương lai của họ.” 5 Điều này cũng đúng với các cơ cấu của Giáo hội.

 

CHƯƠNG IV
MỘT LỊCH SỬ TIẾP DIỄN

Thế kỷ của Học thuyết Giáo hội về Xã hội

82. Những biến đổi về công nghệ và xã hội không ngừng tăng tốc trong hai thế kỷ qua, với đầy mâu thuẫn và xung đột, không chỉ tác động đến đời sống người nghèo mà còn trở thành đối tượng bàn luận và ưu tư của họ. Các phong trào công nhân, phụ nữ, giới trẻ và cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc đã làm nảy sinh một cái nhìn trân trọng mới về phẩm giá của những người bên lề xã hội. Học thuyết Giáo hội về Xã hội cũng xuất hiện từ bối cảnh đó. Việc đọc lại mạc khải Kitô giáo trong tương quan với những vấn đề xã hội, lao động, kinh tế và văn hóa hiện đại sẽ không thể có nếu không có đóng góp của anh chị em giáo dân nam cũng như nữ. Vì họ là những người đã vật lộn với các vấn đề lớn trong thời đại mình. Đồng hành với họ là các tu sĩ nam nữ, hiện thân cho một Giáo hội dấn bước theo các hướng đi mới. Chính bước ngoặt thời đại mà chúng ta đang trải qua càng đòi hỏi sự tương tác thường xuyên giữa các tín hữu và Huấn quyền Giáo hội, giữa công dân bình thường và các chuyên gia, giữa cá nhân và thiết chế. Ở đây, cũng cần nhìn nhận một lần nữa rằng thực tại được thấy rõ nhất từ bên lề, và người nghèo có những cái nhìn độc đáo, không thể thiếu cho Giáo hội và cho toàn thể nhân loại.

83. Huấn quyền của Giáo Hội trong 150 năm qua là một kho tàng phong phú về những giáo huấn quan trọng liên quan đến người nghèo. Các Giám mục Rôma đã lên tiếng cho những hiểu biết mới, được tinh luyện qua tiến trình phân định của Giáo hội. Chẳng hạn, trong Thông điệp Rerum Novarum, Đức Lêô XIII đã bàn về “vấn đề lao động”, chỉ ra điều kiện sống không thể chấp nhận được nơi nhiều công nhân và kêu gọi thiết lập một trật tự xã hội công bằng. Các giáo hoàng khác cũng tiếp tục khai triển chủ đề này. Thánh Gioan XXIII, trong Thông điệp Mater et Magistra (1961), kêu gọi thực thi công bằng ở bình diện toàn cầu: các nước giàu không thể dửng dưng trước những quốc gia đang chịu đói nghèo cùng cực; trái lại, họ được mời gọi quảng đại trợ giúp bằng tất cả nguồn lực của mình.

84. Công đồng Vaticanô II ghi dấu mốc quan trọng trong nhận thức của Giáo hội về người nghèo trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Dù chủ đề còn ở bên lề các bản văn trù bị, Thánh Gioan XXIII, trong Sứ điệp phát thanh ngày 11.9.1962 – một tháng trước khi khai mạc Công đồng – đã kêu gọi chú ý đến vấn đề này. Ngài nói những lời đáng nhớ: “Giáo hội tự giới thiệu mình như vốn là và như muốn trở nên: Giáo hội của mọi người, và đặc biệt là Giáo hội của người nghèo.6

Nỗ lực mạnh mẽ của các giám mục, thần học gia và chuyên viên mong canh tân Giáo hội – với sự nâng đỡ của chính Thánh Gioan XXIII – đã định hướng Công đồng theo đường lối mới. Đức Kitô được đặt ở vị trí trung tâm, cả ở bình diện tín lý lẫn xã hội, là điều nền tảng. Nhiều Nghị phụ Công đồng ủng hộ hướng đi này; Đức Hồng y Lercaro đã nói hùng hồn trong bài phát biểu ngày 6.12.1962: “Mầu nhiệm Đức Kitô trong Giáo hội vẫn luôn là, và hôm nay cách riêng là mầu nhiệm Đức Kitô nơi người nghèo.” 7 Ngài còn nói rằng “đây không chỉ là một chủ đề bên cạnh các chủ đề khác, mà theo một nghĩa nào đó, là chủ đề duy nhất của toàn Công đồng.”8

Khi chuẩn bị bài tham luận, Tổng Giám mục Bologna ghi chú: “Đây là giờ của người nghèo, của hàng triệu người nghèo trên khắp thế giới. Đây là giờ của mầu nhiệm Giáo hội như là Mẹ của người nghèo. Đây là giờ của mầu nhiệm Đức Kitô, hiện diện cách đặc biệt nơi người nghèo.”9 Cảm thức ngày càng rõ là cần một hình ảnh mới về Giáo hội – đơn sơ và tiết độ hơn – ôm lấy toàn Dân Thiên Chúa trong lịch sử. Một Giáo hội giống Chúa của mình hơn là giống các quyền lực trần thế, và cổ võ toàn nhân loại dấn thân để giải quyết vấn nạn nghèo đói khổng lồ trên địa cầu.

85. Khi khai mạc khóa II của Công đồng, Thánh Phaolô VI tiếp nối mối quan tâm của vị tiền nhiệm: Giáo hội “hướng cái nhìn ưu ái đến người nghèo, người túng thiếu, người đau khổ, người đói, người bệnh, người tù tội – nghĩa là nhìn đến toàn thể nhân loại đang khổ đau và rơi lệ: theo tinh thần Tin Mừng, Giáo hội thuộc về họ.”10 Trong Buổi tiếp kiến chung ngày 11.11.1964, ngài nói “người nghèo là những người đại diện cho Đức Kitô” và so sánh hình ảnh Chúa nơi người nghèo với hình ảnh đó nơi Đức Giáo hoàng. Ngài khẳng định: “Việc Đức Kitô hiện diện nơi người nghèo là phổ quát; mỗi người nghèo đều phản chiếu Đức Kitô; còn nơi Đức Giáo hoàng là hiện diện mang tính cá vị… Người nghèo và thánh Phêrô có thể cùng ở một con người, mặc lấy hai tư cách: sự nghèo khó và quyền bính.”82 Như thế, mối dây gắn bó nội tại giữa Giáo hội và người nghèo được diễn tả biểu tượng và sáng tỏ chưa từng có.

86. Hiến chế Mục vụ Vui mừng và Hy vọng (Gaudium et Spes), tiếp nối giáo huấn của các Giáo phụ, mạnh mẽ khẳng định lại rằng của cải trần gian được dành cho mọi người, và quyền sở hữu tư nhân luôn mang một chức năng xã hội phát sinh từ nguyên tắc đó.

Hiến chế viết: “Thiên Chúa đã định trái đất và mọi sự trong đó thuộc về mọi người và mọi dân tộc, để mọi loài thụ tạo được chia sẻ công bằng dưới sự hướng dẫn của công lý, điều hòa bởi đức ái… Khi sử dụng của cải, con người phải xem những điều họ sở hữu hợp pháp không chỉ là của riêng mình, mà còn là của chung, theo nghĩa chúng có thể mưu ích cho người khác cũng như cho chính họ. Vì thế, mọi người có quyền sở hữu của cải trên trái đất, đủ cho bản thân và gia đình… Trong cảnh nghèo cùng cực, người ta có quyền lấy của cải dư thừa của người khác để đáp ứng nhu cầu… Tự bản chất, tư hữu mang chiều kích xã hội, dựa trên luật về mục đích chung của của cải trần thế. Bất cứ khi nào chiều kích xã hội này bị quên lãng, quyền sở hữu dễ trở thành đối tượng của lòng tham và là nguồn cơn gây ra những rối loạn nghiêm trọng.”83

 

80 

 

81 

 

82 Phaolô VI, Giáo lý (11.11.1964): Insegnamenti di Paolo VI, II (1964), 984.

 

83 Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 69, 71.

 

Xác tín này được Thánh Phaolô VI lặp lại trong Thông điệp Populorum Progressio, nơi ta đọc thấy: không ai có thể tự cho phép mình “chiếm hữu của dư thừa chỉ dùng riêng cho bản thân khi người khác thiếu những nhu cầu tối thiểu của đời sống.” 84 Trong diễn văn tại Liên Hiệp Quốc, Đức Phaolô VI đã nói như một người biện hộ cho các dân tộc nghèo85 và kêu gọi cộng đồng quốc tế xây dựng một thế giới liên đới.

 

87. Với Thánh Gioan Phaolô II, mối ưu tiên của Giáo Hội dành cho người nghèo được củng cố, đặc biệt ở bình diện tín lý. Giáo huấn của ngài cho thấy rằng chọn lựa vì người nghèo là “một hình thức ưu tiên đặc biệt trong việc thực thi đức ái Kitô giáo. Toàn bộ truyền thống Giáo hội làm chứng về điều đó.”86

 

Trong Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, ngài viết: “Ngày nay, vấn đề xã hội đã lan rộng trên toàn thế giới. Vì thế, tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo và những chọn lựa gợi lên trong lòng chúng ta phải ôm lấy vô số người đang đói khát, túng thiếu, vô gia cư, không được chăm sóc y tế, đặc biệt là những người không còn hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn. Chúng ta không thể làm ngơ trước thực tế này. Nếu làm ngơ, chúng ta sẽ giống như người phú hộ đã giả vờ không nhìn thấy anh Ladarô ăn xin nằm ngay trước cửa nhà mình.” (x. Lc 16,19–31).87

 

Giáo huấn của Thánh Gioan Phaolô II về lao động cũng quan trọng cho việc suy tư về vai trò chủ thể của người nghèo trong việc canh tân Giáo hội và xã hội – vượt qua thứ “thái độ gia trưởng” chỉ giới hạn ở thỏa mãn nhu cầu tức thời cho người nghèo. Trong Laborem Exercens, ngài quả quyết: “Lao động của con người là một chìa khóa – có lẽ là chìa khóa cốt yếu – của toàn bộ vấn đề xã hội.”88

 

88. Giữa muôn khủng hoảng đánh dấu đầu thiên niên kỷ thứ ba, giáo huấn của Đức Bênêđictô XVI mang sắc thái chính trị rõ hơn. Trong Thông điệp Caritas in Veritate, ngài khẳng định: “Càng nỗ lực bảo đảm công ích đáp ứng nhu cầu thực sự của tha nhân, ta càng yêu thương họ cách hiệu quả.89 Ngài còn nhận xét rằng “Nạn đói không hẳn bắt nguồn từ cảnh thiếu thốn vật chất, mà chủ yếu do thiếu hụt các nguồn lực xã hội, trong đó quan trọng nhất là các thiết chế. Nói cách khác, còn thiếu một mạng lưới các thể chế kinh tế có khả năng đảm bảo cho mọi người được tiếp cận thường xuyên và đầy đủ với lương thực và nước uống cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng, đồng thời đủ năng lực để đáp ứng những nhu cầu căn bản phát sinh trong các cuộc khủng hoảng lương thực thật sự, dù nguyên nhân là thiên tai hay sự vô trách nhiệm chính trị, ở cấp quốc gia cũng như quốc tế.”90

 

84 Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.03.1967), 23: AAS 59 (1967), 269.

 

85 X. sđd., 4: AAS 59 (1967), 259.

 

86 Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), 42: AAS 80 (1988), 572.

 

87 Sđd.: AAS 80 (1988), 573.

 

88 Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens (14.09.1981), 3: AAS 73 (1981), 584.

 

89 Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.06.2009), 7: AAS 101 (2009), 645.

 

90 Sđd., 27: AAS 101 (2009), 661.

 

89. Đức Giáo hoàng Phanxicô ghi nhận rằng trong những thập kỷ gần đây, bên cạnh giáo huấn của các Giáo hoàng, các Hội đồng Giám mục quốc gia và khu vực cũng lên tiếng ngày càng nhiều. Ngài là chứng nhân về cam kết của hàng Giám mục châu Mỹ Latinh trong việc xem xét lại mối tương quan của Giáo hội với người nghèo. Thời hậu Công đồng, ở hầu hết các nước châu Mỹ Latinh, có một ý thức mạnh mẽ rằng Giáo hội cần đồng hóa mình với người nghèo và tích cực tham gia vào việc bảo đảm tự do cho họ. Giáo hội được đánh động trước cảnh thất nghiệp, thiếu việc làm, lương bổng bất công và điều kiện sống dưới mức của đám đông người nghèo. Cuộc tử đạo của Thánh Oscar Romero, Tổng Giám mục San Salvador, là một chứng tá đầy sức mạnh và là nguồn cảm hứng cho Giáo hội: ngài đã cưu mang nỗi khổ của đại đa số đoàn chiên và đặt họ ở trung tâm viễn tượng mục vụ. Các Đại hội Giám mục châu Mỹ Latinh tại Medellín, Puebla, Santo Domingo và Aparecida cũng là những biến cố quan trọng đối với đời sống toàn Giáo hội. Phần tôi, từng truyền giáo nhiều năm tại Peru, tôi chịu ơn lớn trước tiến trình phân định mang tính giáo hội–mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã khéo léo nối kết với tiến trình tại các Giáo hội địa phương khác, nhất là ở Nam bán cầu. Giờ đây, tôi muốn nêu lên hai chủ đề cụ thể trong giáo huấn của các công nghị này.

 

Các cơ cấu tội gây ra nghèo đói và bất bình đẳng cùng cực

 

90. Tại Medellín, các giám mục tuyên bố chọn lựa ưu tiên cho người nghèo: “Đức Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta, không những yêu thương người nghèo, mà ‘đang khi giàu có, đã trở nên nghèo khó vì chúng ta’. Ngài đã sống đời nghèo khó, đặt trọng tâm sứ mạng vào việc rao giảng sự giải thoát cho họ, và thiết lập Giáo hội như dấu chỉ của sự nghèo khó giữa chúng ta… Sự nghèo khó mà quá nhiều anh chị em chúng ta đang kêu đòi công lý, liên đới, chứng tá, dấn thân và những nỗ lực nhằm chấm dứt nó, để sứ mạng cứu độ mà Đức Kitô trao phó được hoàn thiện.”91

 

Các ngài mạnh mẽ khẳng định: để trung tín trọn vẹn với ơn gọi của mình, Giáo hội không chỉ chia sẻ thân phận của người nghèo, mà còn đứng về phía họ và tích cực hành động cho sự phát triển toàn diện của họ. Trước tình trạng nghèo đói trầm trọng ở châu Mỹ Latinh, Hội nghị Puebla đã xác nhận Medellín chọn ưu tiên người nghèo theo cách thẳng thắn đầy ngôn sứ, và gọi các cấu trúc bất công là một “tội xã hội”.

 

91. Đức ái có sức biến đổi thực tại; đó là một sức mạnh tác động thật sự trong lịch sử. Đức ái là mạch nguồn phải gợi hứng và dẫn dắt mọi nỗ lực “giải quyết các nguyên nhân cơ cấu gây ra nghèo đói,”92 và phải thực hiện một cách khẩn trương. Tôi ước mong ngày càng có nhiều “chính trị gia có khả năng đối thoại chân thành và hiệu quả, nhằm chữa trị tận căn những sự dữ trong thế giới chúng ta, chứ

 

91 Hội nghị Giám mục Châu Mỹ Latinh lần II, Văn kiện Medellín (24.10.1968), 14, số 7: Celam, Medellín. Conclusiones, Lima 2005, 131–132.

 

92 Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 202: AAS 105 (2013), 1105.

 

không chỉ chữa vỏ bề ngoài.”93 Bởi lẽ “điều đang được đặt ra là lắng nghe tiếng kêu của cả những dân tộc – những dân tộc nghèo nhất trên trái đất.”94

 

  1. Phanxicô, Tông huấn Christus Vivit (25.03.2019), 231: AAS 111 (2019), 458.[]
  2. Phanxicô, Diễn văn tại Cuộc gặp các Phong trào quần chúng (28.10.2014): AAS 106 (2014), 851–852.[]
  3. Sđd.: AAS 106 (2014), 859.[]
  4. Phanxicô, Diễn văn tại Cuộc gặp các Phong trào Bình dân (05.11.2016): L’Osservatore Romano, 7– 8.11.2016, tr. 5.[]
  5. Sđd[]
  6. Gioan XXIII, Sứ điệp phát thanh gửi các tín hữu một tháng trước khai mạc Công đồng Vaticanô II (11.09.1962): AAS 54 (1962), 682.[]
  7. G. Lercaro, Can thiệp tại Phiên khoáng đại XXXV, Công đồng Vaticanô II (06.12.1962), 2: AS I/IV, 327–328.[]
  8. Sđd., 4: AS I/IV, 329.[]
  9. Viện Khoa học Tôn giáo (chủ biên), Per la forza dello Spirito. Discorsi conciliari del Card. Giacomo Lercaro, Bologna 1984, 115.[]
  10. Phaolô VI, Diễn văn khai mạc trọng thể Khóa II Công đồng Vaticanô II (29.09.1963): AAS 55 (1963), 857.[]
<1 ... 45 6 78>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!