Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

TÔNG HUẤN “TA ĐÃ YÊU CON” (DILEXI TE) CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

92. Vì thế, chúng ta cần tiếp tục lên tiếng tố giác “nền độc tài của một nền kinh tế sát hại”, và nhận ra rằng, “trong khi lợi nhuận của một nhóm thiểu số tăng vọt theo cấp số nhân, thì khoảng cách giữa đại đa số còn lại với sự thịnh vượng của số ít may mắn cũng ngày càng lớn hơn. Sự mất cân đối này bắt nguồn từ những ý thức hệ biện minh cho thị trường và hoạt động đầu cơ tài chính được hoàn toàn tự trị. Vì thế, họ phủ nhận quyền của các quốc gia, vốn được trao trách nhiệm canh giữ công ích chung, trong việc thực thi bất kỳ hình thức kiểm soát nào. Hệ quả là, một thứ bạo quyền mới đang hình thành – vô hình và thường mang tính ảo, nhưng đơn phương và không ngừng áp đặt luật lệ cùng quy tắc của riêng nó”. 95

 

Không thiếu những lý thuyết tìm cách biện minh cho hiện trạng hoặc giải thích rằng tư duy kinh tế đòi ta chờ “những sức mạnh thị trường vô hình” giải quyết hết mọi sự. Tuy nhiên, phẩm giá của mỗi người phải được tôn trọng hôm nay, không phải ngày mai, và cảnh những người bị tước đoạt phẩm giá phải luôn đè nặng trên lương tri chúng ta.

 

93. Trong Thông điệp Dilexit Nos, Đức Phanxicô nhắc chúng ta rằng tội xã hội củng cố nên “cấu trúc tội” trong lòng xã hội. Đó thường là một phần của não trạng thống trị, vốn coi sự ích kỷ và dửng dưng như là điều bình thường hoặc hợp lý. Chính từ đó phát sinh sự tha hóa xã hội.96 Khi ấy, làm ngơ trước người nghèo và sống như thể họ không tồn tại trở thành chuyện tự nhiên. Người ta còn cho rằng thật hợp lý khi tổ chức nền kinh tế theo cách buộc số đông phải hy sinh để phục vụ lợi ích của những kẻ quyền thế. Trong khi đó, người nghèo chỉ được hứa hẹn “nhỏ giọt”, cho đến khi một cuộc khủng hoảng toàn cầu khác lại đưa mọi thứ trở về như cũ. Một hình thức tha hóa thực sự xảy ra khi chúng ta chỉ viện cớ lý thuyết, thay vì tìm cách giải quyết những nỗi khổ cụ thể của người đau yếu và bị áp bức. Thánh Gioan Phaolô II đã từng nhận xét: “Xã hội bị tha hóa khi những hình thức tổ chức, sản xuất và tiêu dùng làm cho con người khó có thể tự hiến và thiết lập sự liên đới giữa người với người.”97

 

94. Chúng ta cần dấn thân nhiều hơn trong việc giải quyết các nguyên nhân cơ cấu gây ra nghèo đói. Đây là một đòi hỏi cấp bách “không thể trì hoãn, không chỉ vì lý do thực tế cấp bách cho trật tự xã hội, nhưng còn vì xã hội cần được chữa lành căn bệnh đang làm nó suy yếu và rối loạn, dẫn tới những khủng hoảng mới. Các dự án phúc lợi nhằm đáp ứng những nhu cầu khẩn cấp chỉ nên được xem như các

 

93 Sđd., 205: AAS 105 (2013), 1106.

 

94 Sđd., 190: AAS 105 (2013), 1099.

 

95 Sđd., 56: AAS 105 (2013), 1043.

 

96 Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24.10.2024), 183: AAS 116 (2024), 1427.

 

97 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (01.05.1991), 41: AAS 83 (1991), 844–845.

 

giải pháp tạm thời.”98 Tôi chỉ có thể lặp lại rằng bất bình đẳng “là cội rễ của các tệ nạn xã hội.”99 Quả thật, “người ta thường thấy rõ rằng, trên thực tế, các quyền con người chưa được bình đẳng cho hết mọi người.”100

 

95. Vì đó là “mô hình đang thống trị, nhấn mạnh thành công và tự lực, dường như không khuyến khích đầu tư để giúp những người chậm hơn, yếu hơn hay ít tài năng hơn tìm thấy cơ hội sống.”101 Những câu hỏi xưa như trái đất vẫn chất vấn chúng ta:

 

Chẳng lẽ những người kém khả năng thì không còn là con người ?

 

Hay phải chăng người yếu kém thì không có cùng phẩm giá như chúng ta?

 

Phải chăng những ai sinh ra với ít cơ hội hơn thì có giá trị ít hơn sao?

 

Phải chăng họ chỉ nên sống cầm chừng thôi?

 

Giá trị của xã hội chúng ta – và tương lai của chính chúng ta – tùy thuộc vào cách chúng ta trả lời những câu hỏi này. Hoặc chúng ta giành lại phẩm giá luân lý và thiêng liêng, hoặc chúng ta rơi vào vũng lầy. Nếu không dừng lại và nghiêm túc với vấn đề này, chúng ta sẽ tiếp tục – công khai hay lén lút – “hợp pháp hóa mô hình phân phối hiện tại, trong đó thiểu số cho rằng họ có quyền tiêu dùng theo cách không bao giờ có thể phổ quát hóa, vì ngay cả trái đất thậm chí không thể chứa nổi rác thải phát sinh từ kiểu tiêu dùng ấy.”102

 

96. Một vấn đề cơ cấu vốn không thể thực tế giải quyết từ trên xuống. Nó cần được xử lý càng sớm càng tốt, liên quan đến những nơi chốn, khu xóm, ngôi nhà và thành phố nơi người nghèo sinh sống và lui tới. Tất cả chúng ta đều trân trọng vẻ đẹp của “những thành phố vượt qua được sự ngờ vực tê liệt, hội nhập những người khác biệt và biến chính sự hội nhập này thành động lực phát triển mới! Thật hấp dẫn biết bao những thành phố mà ngay cả trong thiết kế kiến trúc, cũng đầy ắp những không gian kết nối, tương tác và thúc đẩy việc nhận biết người khác!”103 Nhưng đồng thời, “chúng ta không thể không xét đến những tác động trên đời sống con người do sự suy thoái môi trường, các mô hình phát triển hiện nay và nền văn hóa loại bỏ.”104 Bởi vì “sự suy thoái môi trường và xã hội tác hại đến những người dễ tổn thương nhất trên hành tinh.”105

 

97. Mọi thành phần Dân Thiên Chúa đều có bổn phận lên tiếng – theo những cách khác nhau – để chỉ ra và tố giác các vấn đề cơ cấu như thế, dẫu có bị xem là khờ

 

98 Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 202: AAS 105 (2013), 1105.

 

99 Sđd.

 

100 Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (03.10.2020), 22: AAS 112 (2020), 976.

 

101 Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 209: AAS 105 (2013), 1107.

 

102 Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24.05.2015), 50: AAS 107 (2015), 866.

 

103 Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 210: AAS 105 (2013), 1107.

 

104 Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24.05.2015), 43: AAS 107 (2015), 863.

 

105 Sđd., 48: AAS 107 (2015), 865.

 

khạo hay ngây thơ. Các cơ cấu bất công cần được nhận diện và bị loại bỏ bằng sức mạnh của điều thiện, bằng việc đổi mới não trạng, cũng như qua các chính sách hiệu quả cho xã hội thay đổi với sự trợ giúp của khoa học và công nghệ. Đừng bao giờ quên rằng sứ điệp Tin Mừng không chỉ liên quan tới mối tương quan cá vị của mỗi người với Chúa, mà còn tới điều lớn lao hơn: “Nước Thiên Chúa (x. Lc 4,43); đó là yêu mến Thiên Chúa đang hiển trị trong thế gian. Ở mức độ Ngài hiển trị trong chúng ta, đời sống xã hội sẽ trở thành không gian của tình huynh đệ phổ quát, công lý, hòa bình và phẩm giá. Do đó, lời rao giảng và đời sống Kitô hữu được định hướng để tác động vào xã hội. Chúng ta tìm kiếm Nước của Thiên Chúa.”106

 

98. Sau cùng, trong một văn kiện lúc đầu không được mọi người đón nhận, ta vẫn thấy một suy tư mang tính thời sự sâu sắc cho đến hôm nay:

 

“Những người bảo vệ giáo lý chính thống đôi khi bị cáo buộc là thụ động, dễ dãi hoặc đồng lõa với những tình trạng bất công không thể chịu đựng nổi, cũng như với các chế độ chính trị duy trì những tình trạng đó. Tuy nhiên, sự hoán cải thiêng liêng, tình yêu nồng cháy đối với Thiên Chúa và tha nhân, lòng nhiệt thành cho công lý và hòa bình, cùng ý nghĩa Tin Mừng về người nghèo và sự khó nghèo, là điều đòi hỏi nơi tất cả mọi người, đặc biệt nơi các mục tử và những người có trách nhiệm. Mối bận tâm gìn giữ sự tinh tuyền của đức tin không thể dừng ở lý thuyết, nhưng đòi hỏi phải đáp trả bằng chứng tá cụ thể, qua việc phục vụ tha nhân, nhất là người nghèo và người bị áp bức, với một cái nhìn thần học toàn diện.”107

 

Người nghèo như những chủ thể

 

99. Đời sống của Giáo hội hoàn vũ được phong phú nhờ phân định của Đại hội Aparecida, nơi các giám mục châu Mỹ Latinh khẳng định rằng chọn lựa ưu tiên cho người nghèo “hàm chứa trong đức tin Kitô học vào Thiên Chúa, Đấng đã trở nên nghèo vì chúng ta, để làm cho chúng ta trở nên giàu có nhờ sự nghèo khó của Ngài.”108 Văn kiện Aparecida đặt sứ mạng của Giáo hội trong bối cảnh hiện tại của một thế giới toàn cầu hóa in đậm bởi những mất cân đối nghiêm trọng mới.109 Trong Sứ điệp Kết thúc, các giám mục viết: “Sự chênh lệch sâu sắc giữa người giàu và người nghèo mời gọi chúng ta dấn thân hơn nữa để trở nên những môn đệ biết chia sẻ bàn tiệc sự sống, bàn tiệc của mọi người con của Cha – một bàn tiệc rộng mở và bao gồm, nơi không ai bị loại trừ. Vì thế, chúng tôi tái khẳng định chọn lựa ưu tiên và mang tính Tin Mừng dành cho người nghèo”110

 

106 Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 180: AAS 105 (2013), 1095.

 

107 Bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị về một số khía cạnh của “Thần học Giải phóng” (06.08.1984) XI, 18: AAS 76 (1984), 907–908.

 

108 Đại hội Giám mục Châu Mỹ Latinh và Caribê lần V, Văn kiện Aparecida (29.06.2007), số 392, Bogotá 2007, tr. 179–180; x. Bênêđictô XVI, Diễn văn khai mạc (13.05.2007), 3: AAS 99 (2007), 450.

 

109 X. Văn kiện Aparecida (29.06.2007), các số 43–87, tr. 31–47.

 

110 Đại hội lần V, Sứ điệp kết thúc (29.05.2007), số 4, Bogotá 2007, tr. 275.

 

100. Đồng thời, Văn kiện – tiếp nối một chủ đề đã được các Đại hội Giám mục châu Mỹ Latinh trước đó đề cập – nhấn mạnh cần xem các cộng đồng bị gạt ra bên lề như những chủ thể có khả năng sáng tạo văn hóa riêng, hơn là đối tượng của lòng bác ái. Điều này có nghĩa các cộng đồng đó có quyền đón nhận Tin Mừng, cử hành và thông truyền đức tin phù hợp với các giá trị trong chính văn hóa của họ. Kinh nghiệm nghèo khó giúp họ nhận ra những khía cạnh của thực tại mà người khác không thấy; vì thế, xã hội cần lắng nghe họ. Giáo hội cũng vậy, phải nhìn nhận cách tích cực “đức tin bình dân” của họ.

 

Một đoạn văn rất hay của Văn kiện Aparecida giúp chúng ta suy tư và đáp ứng cho đúng: “Chỉ có sự thân tình kết thành bạn hữu mới giúp ta thấu cảm sâu xa những giá trị của người nghèo hôm nay, những khát vọng chính đáng và nếp sống đức tin sống động của họ… Ngày qua ngày, người nghèo trở thành tác nhân loan báo Tin Mừng và thăng tiến con người toàn diện: họ giáo dục con cái trong đức tin, duy trì tình liên đới giữa bà con láng giềng, không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa và làm cho cuộc lữ hành của Giáo hội thêm sức sống. Dưới ánh sáng Tin Mừng, chúng ta nhìn nhận họ có phẩm giá lớn lao và giá trị thánh thiêng trong mắt Đức Kitô – Đấng đã nghèo như họ và bị loại trừ giữa họ. Dựa trên kinh nghiệm đức tin, chúng ta sẽ cùng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của họ.”111

 

101. Tất cả điều này bao hàm một khía cạnh trong chọn lựa vì người nghèo mà ta phải không ngừng ghi nhớ: nó đòi hỏi nơi chúng ta thái độ chú tâm yêu thương dành cho tha nhân. “Thái độ chăm chú yêu thương là khởi điểm của một mối quan tâm đích thực dành cho họ, thúc đẩy tôi thực sự tìm kiếm điều thiện cho họ. Điều này đòi hỏi tôi phải biết trân trọng người nghèo trong chính sự tốt lành, trong kinh nghiệm sống, trong nền văn hóa, và trong cách họ sống đức tin. Tình yêu đích thực luôn mang tính chiêm niệm: nó giúp ta phục vụ tha nhân không vì ép buộc hay vì hư danh, nhưng vì nơi họ có một vẻ đẹp vượt lên trên bề ngoài… Chỉ khi có được sự gần gũi chân thành và thực sự như thế, chúng ta mới có thể đồng hành với người nghèo đúng nghĩa trên con đường giải thoát của họ.”112 Vì lý do này, tôi chân thành biết ơn tất cả những ai đã chọn sống giữa người nghèo – không chỉ thi thoảng ghé thăm – mà là sống như họ sống. Một quyết định như thế cần được xem như một trong những hình thức cao quý nhất của đời sống Tin Mừng.

 

102. Dưới ánh sáng này, hiển nhiên là tất cả chúng ta phải “để cho mình được loan báo Tin Mừng bởi người nghèo”113 và nhìn nhận “sự khôn ngoan nhiệm mầu mà Thiên Chúa muốn thông chia cho chúng ta qua họ.”114 Họ lớn lên giữa cảnh thiếu thốn; họ học cách sinh tồn trong những điều kiện khắc nghiệt nhất; họ tín thác nơi Thiên Chúa khi không ai khác coi trọng họ, và họ nâng đỡ nhau trong những giờ

 

111 Văn kiện Aparecida (29.06.2007), số 398, tr. 182.

 

112 Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 199: AAS 105 (2013), 1103–1104.

 

113 Sđd., 198: AAS 105 (2013), 1103.

 

114 Sđd.

 

phút tăm tối nhất. Từ đó, người nghèo đã rút ra nhiều bài học cất giữ trong lòng. Những ai không có kinh nghiệm sống như thế hẳn có rất nhiều điều để lãnh hội từ nguồn kinh nghiệm khôn ngoan của người nghèo. Chỉ khi liên kết những lời than phiền của mình bên cạnh nỗi khổ và sự thiếu thốn của họ, chúng ta mới nhận ra một lời cảnh tỉnh có sức thách đố ta sống một cuộc đời giản dị hơn.

 

CHƯƠNG V

 

MỘT THÁCH ĐỐ KHÔNG NGỪNG

 

103. Tôi nhắc lại lịch sử Giáo hội từ xa xưa đã quan tâm chăm sóc, đồng hành với người nghèo, để cho thấy điều đó luôn là một phần ở trung tâm đời sống của Giáo hội. Thật vậy, chăm sóc người nghèo là một phần trong Truyền thống lớn lao của Giáo hội, như ngọn đuốc Tin Mừng soi sáng tâm hồn và hướng dẫn các Kitô hữu chọn lựa qua mọi thời đại. Vì thế, chúng ta có bổn phận mời gọi mọi người cùng chia sẻ ánh sáng và sự sống, phát sinh khi ta nhận ra dung mạo của Đức Kitô nơi những người đau khổ và túng thiếu. Tình yêu dành cho người nghèo là một yếu tố cốt lõi trong cách Thiên Chúa cư xử với nhân loại. Tình yêu đó tuôn chảy từ trái tim Giáo hội, như lời mời gọi không ngừng đánh động tâm hồn các tín hữu, cách riêng cũng như trong các cộng đoàn.

 

Với tư cách là Thân Thể của Đức Kitô, Giáo hội cảm nhận đời sống của người nghèo như chính thân thể mình, vì người nghèo có một vị trí đặc biệt trong đoàn Dân Chúa lữ hành. Vì thế, tình yêu dành cho người nghèo, dù nghèo vật chất hay tinh thần, luôn là dấu ấn Tin Mừng của một Giáo hội trung thành với trái tim Thiên Chúa. Thật vậy, trong mọi phong trào canh tân của Giáo hội, mối quan tâm ưu tiên dành cho người nghèo luôn là điểm trọng tâm. Cũng vì thế, hoạt động của Giáo hội giữa người nghèo mang nguồn cảm hứng và phương thế khác biệt, không giống với bất kỳ tổ chức nhân đạo nào khác.

 

104. Không một Kitô hữu nào có thể coi người nghèo chỉ là một vấn đề xã hội; họ là thành viên trong gia đình chúng ta, là “một phần của chính chúng ta”. Mối tương quan với người nghèo không thể bị giản lược thành một hoạt động hay chương trình mục vụ trong Giáo hội.

 

Văn kiện Aparecida đã nhắc nhở: “Chúng ta được mời gọi dành thời gian cho người nghèo, quan tâm đến họ bằng tình yêu, lắng nghe họ với sự chú ý, ở bên họ trong những lúc khó khăn — sẵn sàng dành giờ, tuần, hay cả năm tháng đời mình để sống với họ và góp phần thay đổi hoàn cảnh của họ, bắt đầu từ chính họ. Chúng ta không thể quên rằng đó chính là điều Chúa Giêsu đã làm, bằng chính hành động và lời nói của Ngài.”115

 

115 Đại hội Giám mục Châu Mỹ Latinh và Caribê lần V, Văn kiện Aparecida (29.06.2007), số 397, tr. 182.

 

Dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu – một lần nữa

 

105. Nền văn hóa thống trị đầu thiên niên kỷ này dường như muốn ta bỏ mặc người nghèo theo số phận của họ, coi họ không đáng được quan tâm, hơn là được tôn trọng.

 

Trong Thông điệp Fratelli Tutti, Đức Phanxicô mời gọi chúng ta suy tư lại dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu (x. Lc 10,25–37). Dụ ngôn trình bày những phản ứng khác nhau nơi những người đi ngang qua một người bị thương nằm trên vệ đường. Chỉ người Samaritanô nhân hậu dừng lại và chăm sóc anh.

 

Đức Phanxicô đặt câu hỏi thẳng thắn cho mỗi chúng ta:

 

“Anh chị em thấy mình giống ai trong số những người đó?

 

Câu hỏi này thật trực diện và đòi ta phải trả lời trung thực: Anh chị em giống ai?

 

Chúng ta phải thừa nhận rằng mình luôn bị cám dỗ làm ngơ người khác, nhất là những người yếu đuối. Dù nhân loại đã tiến xa, ta vẫn còn ‘mù chữ’ trong việc đồng hành, chăm sóc và nâng đỡ những người mong manh nhất trong các xã hội phát triển của chúng ta. Chúng ta đã quen ngoảnh mặt làm ngơ, bước qua, và chỉ để tâm khi điều đó chạm đến chính mình.”116

Nội dung trang này
<1 ... 56 7 8>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!