Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

Giờ đây, cũng như với trường hợp “lương tâm trên hết,” chúng tôi thực sự không có ý xem nhẹ phán đoán khôn ngoan như là một khái niệm vô giá trị: chắc chắn rằng một đề nghị, một ý kiến cụ thể của Giáo hoàng, hay một nguyên tắc mà GHXH đưa ra cho nhiều hình thức áp dụng khác nhau, không có tính ràng buộc và hoàn toàn phụ thuộc vào một tình huống cụ thể. Thực vậy, áp dụng cụ thể luôn cần phán đoán khôn ngoan. Nhưng trong kinh nghiệm thực tế, chúng ta nhận thấy rằng, người ta hiếm khi dùng cụm từ này theo đúng bối cảnh của nó, và thường trốn tránh trách nhiệm để Giáo Hội không thể ngăn cản những chương trình mang tính chính trị của mình.

  1. Sự vô tri

Gắn kết mật thiết với vấn đề khôn ngoan, việc tu dưỡng, việc vận hành khôn ngoan, cũng như những vấn đề trên đây về lương tâm và tự do, đó chính là vấn đề về sự vô tri, vì vô tri phá hủy tất cả ba yếu tố trên.

Nếu chúng ta được mời gọi hưởng tự do thì trước tiên và trên hết chúng ta được mời gọi để hiểu biết chân lý: “Các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ làm cho các ông được tự do.”[172] Chúng ta không thể đưa ra bất kỳ lý do nào để tin rằng tự do có thể có bên ngoài chân lý. Vì vậy, ở mức độ nào đó, chúng ta vẫn thiếu chân lý – nghĩa là, chúng ta còn vô tri – chưa thực sự tự do. Từ đó hiểu rằng, chúng ta có bổn phận làm giảm hoặc tẩy trừ sự vô tri bất cứ khi nào có thể. Chúng ta sẽ bị quy trách nhiệm nếu sự vô tri của mình thuộc vào loại có thể dễ dàng tẩy trừ, mà vì bất cứ lý do gì, chúng ta lại cố chấp giữ lấy nó.[173]

  1. Hai loại vô tri

Mặc dù vô tri là điều không đáng ao ước, nhưng đó cũng là một điều không thể tránh khỏi, vì khả năng trí óc của chúng ta là giới hạn. Thế nhưng, những gì đã nói ở trên cho thấy rõ là, ở mức độ nào đó, chúng ta có trách nhiệm với sự vô tri của mình, từ đó ta thấy sự vô tri được chia thành hai loại: loại thứ nhất là vô tri bất khả thắng, đây là loại vô tri chúng ta không phải chịu trách nhiệm luân lý. Loại thứ hai là vô tri khả thắng vì nó ám chỉ đến một tình cảnh vô tri khả thể loại trừ nếu ta thực hiện những bước đúng đắn. Cần nói thêm đôi lời để cho thấy sự khác biệt giữa hai loại vô tri này.

  1. Vô tri bất khả thắng

Khi sinh ra, tất cả chúng ta đều chưa biết gì, và dù có sống cần cù, siêng năng đến khi chết, chúng ta vẫn còn nhiều thứ để học hỏi. Hệ quả của tình trạng vô tri hiển nhiên này là chúng ta thường xuyên mắc sai lầm ứng với sự thiếu hiểu biết chân lý của mình. Thật vậy, có thể nói rằng, con người, kẻ sa ngã, thường bị chia lìa khỏi Thiên Chúa do sự vô tri hơn là sự dữ đơn thuần, và tội con người phạm thường là kết quả của nhận thức sai lầm hơn là thái độ cứng lòng. Theo Đức Lêô XIII:

“Đúng ra, chính sự vô tri, chứ không phải ý xấu, làm cho nhiều người xa cách Đức Giêsu Kitô. Có rất nhiều người học hỏi về con người và thế giới tự nhiên; thế nhưng rất ít người học về Con Thiên Chúa. Vậy thì, để Đức Giêsu không còn bị khinh miệt và loại trừ do người ta không biết về Người, bước đầu tiên là phải dùng tri thức mà thay thế sự vô tri.”[174]

Một khi đã nhận thấy như vậy, đồng thời xét rằng, con người không thể bị quy trách nhiệm vì một tội thực sự không do bởi ý chí của người ấy, chúng ta có thể nói rằng, loại hình vô tri hiển nhiên, bất khả thắng này không phải là một tội. Tuy nhiên, vẫn có một giả định bên dưới đi kèm với ý niệm này về vô tri bất khả thắng, đó là chúng ta phải nỗ lực hết mình để vượt qua và giảm thiểu tác động của nó trong đời sống của mình.

  1. Vô tri khả thắng

Bây giờ chúng ta phải nhìn vào phía bên kia của bức tranh này. Khi một người “không chịu quan tâm tìm kiếm điều chân thật, điều thiện hảo, hay trong trường hợp vì quen phạm tội mà lương tâm dần dần trở nên mù quáng,”[175] khi đó chúng ta khó có thể nói rằng, sự vô tri của người đó (và bất kỳ hành vi nào nảy sinh từ sự vô tri này) là “bất khả thắng.” Trong những trường hợp thế này, chúng ta buộc phải thừa nhận rằng, do sự lựa chọn riêng của họ (do lười biếng hay quen phạm tội), sự vô tri của họ là khả thắng và ít nhiều phải chịu trách nhiệm về điều này. Tóm lại, người đó lẽ ra có ánh sáng, nhưng thay vào đó lại chọn bóng tối. Điều này có nghĩa là, nếu chúng ta lười biếng không tích cực giáo dục và huấn luyện lương tâm của mình, lương tâm đó sẽ bị méo mó, và tình trạng này là do lỗi của chúng ta. Tương tự, nếu chúng ta để mình sống thường xuyên trong tội, lương tâm của chúng ta sẽ bị tê liệt và phán đoán của chúng ta sẽ lệch lạc theo. Trong những hoàn cảnh như vậy, rõ ràng chúng ta phải chịu trách nhiệm vì sự bất cẩn của mình.[176]

  1. Những vấn đề và áp dụng cụ thể

Những phần tiếp theo đây sẽ cung cấp cho độc giả vài ví dụ cụ thể hơn về cách thức Giáo Hội giải quyết các vấn đề luân lý. Danh sách này rõ ràng chưa thấu đáo, cũng không thể nói là bao gồm những vấn đề luân lý quan trọng nhất đang được tranh luận ngày nay. Các mục sau đây đơn giản được chọn ra dựa trên tính quen thuộc của nó với độc giả đương thời, và lại nữa là vì chúng giúp làm sáng tỏ việc áp dụng của các nguyên tắc đã được vạch ra trên đây.

  1. Nói dối

Theo thánh Augustinô: “Nói dối là nói một điều sai với ý hướng muốn lừa gạt.”[177] Nói dối là sự xúc phạm trực tiếp nhất đến chân lý, vì nó hủy hoại tương quan của người khác với chân lý, cũng như hủy hoại tương quan giữa kẻ dối trá và người bị lừa gạt,[178] ngõ hầu làm phá hoại mục đích của chính việc đạt đến chân lý.

Ví dụ về nói dối, là một điều tự bản chất là xấu,[179] cho ta một trường hợp tốt để chỉ ra sai lầm của thuyết duy hậu quả (consequentialism) được đề cập ở trên, vốn khiến chúng ta tin rằng có một thứ được gọi là “lời nói dối vô hại” – tức là lời nói dối được phép vì nó không gây ra hoặc ít gây ra tác hại. Thậm chí tệ hơn, những nhà duy hậu quả còn cho rằng, thực ra lời nói dối này cũng cần thiết cho những vấn đề lớn, miễn là có điều tốt nảy sinh từ sự thiếu trung thực này. Ở đây, những người ủng hộ lối suy nghĩ duy hậu quả sẽ tự động trình bày những ví dụ rất cực đoan để chứng minh cho lập trường của họ: “Tôi sẽ làm gì nếu như tôi đang che giấu những người Do Thái đang bị diệt chủng và bọn lính của Đức quốc xã đến tra hỏi? Bạn có thực sự nói rằng tôi phải nộp những người vô tội đó để tránh phải nói dối không?”

Đây quả là một tình huống bi đát, chắc chắn là vậy, thế nhưng nếu việc bảo vệ an toàn cho những người vô tội đó là một nguyên do hữu lý để từ bỏ chân lý, thì cái chết của các vị tử đạo Kitô giáo chỉ đáng để nhạo cười hơn để kính trọng. Tất cả các vị tử đạo đã chọn một cái kết cay đắng hơn là phủ nhận chân lý mà mình tin vào, và điều này là điên rồ đối với những người theo thuyết duy hậu quả. Để làm sáng tỏ thêm về điều đã đề cập ở trên, chúng ta phải nhớ rằng, người ta có thể che giấu thông tin đối với những người không có quyền được biết,[180] nhưng không bao giờ được phép nói sai sự thật. Thận trọng là đúng đắn, đặc biệt trong việc sử dụng từ ngữ, thế nhưng không bao giờ nói dối, vì luôn luôn “không được phép làm điều xấu, để từ đó đạt tới điều tốt.”[181]

  1. Phá thai

Phá thai cũng là một hành vi xấu tự bản chất,[182] thế nhưng, lại thường xuyên được bảo vệ bởi lập luật rằng, có thể phạm tội này trong một vài trường hợp cần thiết và vì thế được phép thực hiện. Thế nhưng, Giáo Hội vẫn luôn khẳng định rằng, sự sống con người mang phẩm giá trong đó, và phải bảo vệ phẩm giá ấy bất luận sinh mạng đó còn trong trứng nước hay quá già cỗi. Đó là lý do vì sao cả phá thai lẫn an tử đều bị kết án cùng một phán quyết như nhau, bởi vì cả hai hành vi này đều làm tổn hại nặng nề đến sự sống: “không thể nào chấp nhận – lý do vì việc đó bất hợp pháp – việc điều hòa sinh sản bằng cách trực tiếp ngăn chặn sự diễn biến đã khởi sự một mầm sống, và nhất là việc cố ý phá thai dù với lý do y tế cũng vậy.”[183]

Ở đây một lần nữa, như một nhắc nhở và để bác bỏ những ai theo chủ nghĩa tuyệt đối hóa quyền của con người, cần phải nói rằng: “Nếu con người không có toàn quyền, một thứ quyền vô hạn đối với thân xác của mình, thì lẽ tất nhiên, họ cũng không có quyền hạn vô song đối với các khả năng tạo thành mầm sống (hiểu theo đúng nghĩa của chúng), vì các khả năng ấy có mục đích cố hữu là sinh ra sự sống, sự sống do chính Thiên Chúa là nguyên lý.”[184] Người ta không “sở hữu” thân thể của mình, ít nhiều được phép cư xử bạo lực với sinh mạng được nẩy nở trong thân thể ấy.

Và như thế, Đức Gioan XXIII nhắc nhở chúng ta rằng: “Sự sống con người là thánh thiêng – hết thảy mọi người phải nhận ra sự thật này. Ngay từ những khoảng khắc đầu tiên, sự sống đó chỉ cho thấy bàn tay sáng tạo của Thiên Chúa.”[185]

  1. Đồng tính luyến ái

Nếu chúng tôi muốn làm sáng tỏ sự liên kết giữa luân lý Kitô giáo và luật tự nhiên, thì sự lệch lạc giới tính là một chủ đề hợp lý để phân tích sự kết nối này. Chúng tôi đã trình bày ở phần đầu một sự kiện rất thật rằng, một hành vi được tìm thấy trong tự nhiên không làm cho nó có tính tự nhiên. Tương tự, những thỏa mãn trái nghịch với tự nhiên trong phạm vi một loài dường như có thể là “tự nhiên” với mỗi cá nhân – thế nhưng điều này không có nghĩa thỏa mãn ấy là tự nhiên. Nó có thể là một loại bệnh hoạn. Một người lệch lạc giới tính sẽ bị cuốn hút bởi những người cùng giới tính với mình; xét theo nghĩa này, đó là tự nhiên với một người đồng tính khi người này cư xử như vậy, thế nhưng điều này không làm cho sự đồng tính trở nên bình thường. Trong khi một người đàn ông tìm kiếm thỏa mãn với một người đàn ông khác, anh ta đi vào một sự kết hợp vô sinh, và điều này nghịch với tự nhiên. Những thỏa mãn gắn với sự đồng tính thì ở trong tự nhiên, nhưng cùng lúc đó, nó đối nghịch với tự nhiên.

Giờ đây phải nói rằng, dù cho đặc tính của mỗi người khiến người đó bị gạt ra bên lề giống loài của mình theo cách như trên đây, anh ta cũng không vì thế mà nhất thiết bị kết án, như chúng ta sẽ thấy trong chương kế tiếp. Etienne Gilson đã khéo léo nói rằng: “Chỉ một mình khoa luân lý thì không đủ để kết án hoặc tha bổng cho con người, thế nhưng nó thực sự đủ để phân biệt cái tốt và cái xấu, và nó nhận thấy rằng nết xấu không được tán tụng như là nhân đức.”[186]

  1. Tra tấn

Một khi đã xác định rằng không được viện cớ mục đích tốt mà thực hiện hành vi xấu, nhiều cuộc tranh luận đương thời ngay lập tức tan biến. Những luận cứ bảo vệ phá thai và không thành thật là hai ví dụ điển hình – và những luận cứ ủng hộ tra tấn là ví dụ thứ ba. Việc tra tấn luôn được bảo vệ trong dư luận, luôn dựa trên nền tảng của những viễn cảnh không tưởng mang tầm vóc của một cuộc biến động lớn, nơi đó một “quả bom hẹn giờ” sắp nổ tung hủy diệt cư dân thành phố, và chỉ có việc áp dụng tra tấn lên kẻ bị bắt giữ mới có khả năng tiết lộ vị trí của quả bom đó.

Giờ đây, tại điểm này, chúng ta có thể mời đến lời chứng của một số chuyên viên trong lĩnh vực này, cũng như những ví dụ trong lịch sử, tất cả đều khẳng định với chúng ta rằng, tra tấn thực ra không hiệu quả, bất chấp những điều tốt mà một vài nhóm người ủng hộ đưa ra. Thế nhưng, chúng ta không cần dính vào những nghiên cứu như vậy ở đây vì dù cho tra tấn có được chứng minh là hiệu quả đi chăng nữa – điều mà chúng ta chưa chắc cho lắm – thì nó vẫn là bất hợp pháp và sự dữ tận căn[187] bởi vì nó gạt bỏ phẩm giá của con người, một phẩm giá không thể bị khước từ do con người và không phụ thuộc vào bất kỳ hành vi nào.[188] Việc sử dụng các phương thức như tra tấn nhằm ép buộc ý chí là đối xử với con người như một công cụ hơn là một cứu cánh, vốn là điều mà Giáo Hội lúc nào cũng bác bỏ như một thái độ được chấp nhận.[189]

  1. Sát nhân

Lấy đi mạng sống con người là sự cướp đoạt lớn lao nhất trong những sự cướp đoạt, vì lấy đi mạng sống cũng đồng thời lấy đi tất cả. Trong nhiều hoàn cảnh đặc biệt, có những sự giết chóc chính đáng, nhưng những trường hợp này phải do một thẩm quyền hợp pháp thực hiện. Lý do khiến cho điều này đúng luật là do bản chất thứ bậc của thẩm quyền xã hội.

Việc cây cỏ chịu hy sinh cho thú vật, và thú vật hy sinh cho con người, thì không nằm ngoài thứ bậc thông thường của cuộc sống. Tuy nhiên, hai người xét về thứ bậc là ngang hàng nhau thì không có quyền thực hiện hành vi này. Vì lẽ đó, khi phải tận diệt một sinh mạng, chúng ta buộc phải hướng về một thẩm quyền cao cấp hơn, trong trường hợp này đó là chính quyền. Một chính quyền hợp pháp là cấp trên đối với từng thành viên xã hội xét từ quan điểm công lý, và vì thế, quyết định lấy đi sinh mạng của một thành viên trong cộng đồng chỉ có thể được thực hiện cách đúng đắn bởi thẩm quyền đó mà thôi.[190]

Mặc dù những lý do hữu lý trên đây giúp hợp pháp hóa hình phạt tử hình theo lý thuyết, nhưng cần phải nhớ rằng, thậm chí khi một thẩm quyền xã hội hợp pháp hiện hữu, xét vì giá trị nội tại của mạng sống con người, cũng chỉ được phép sử dụng hình phạt tử hình trong những trường hợp cần thiết, khi xã hội không còn phương tiện nào khác để tự bảo vệ mình khỏi sự đe dọa của kẻ phạm tội:

“Chính vì để đạt đến những mục đích đó mà rõ ràng là mức độ và tính chất của hình phạt phải được chăm chú ước lượng và xác định. Chúng không được dẫn đến biện pháp cuối cùng là thủ tiêu người có tội, nếu đó không phải là trong trường hợp tuyệt đối cần thiết, khi việc bảo vệ xã hội không thể thực hiện được bằng cách nào khác. Nhưng mà ngày nay, do một tổ chức cơ chế hình sự luôn có hiệu năng hơn, những trường hợp ấy từ nay đã khá hiếm, nếu không phải thực tế là không còn tồn tại.”[191]
  1. Tự sát

Tự sát là giết chính mình, vì con người buộc phải tôn trọng mạng sống chính mình cùng thể thức như tôn trọng mạng sống của người khác. Và trong thực tế, theo quan điểm của Thánh Tôma Aquinô, tự giết mình còn trầm trọng hơn giết người khác, vì mỗi người cần dành tình yêu lớn nhất cho chính mình.[192] Do đó mới có mệnh lệnh yêu người thân cận như chính mình.

Ở đây một lần nữa chúng ta trở về với những hiểu lầm do quan niệm cho rằng, mỗi người là “tài sản riêng” của chính mình. Nếu có chuyện này, sẽ dễ dàng hiểu được tại sao việc giết người khác lại bị cấm, vì đó bao gồm việc hủy diệt “tài sản riêng” của người khác; rủi thay, cùng một lúc, không thể giải thích được tại sao việc tự giết chính mình lại không được chấp nhận, vì một người có thể sử dụng tài sản riêng của mình tùy ý. Để hiểu sự xấu xa của việc tự tử, chúng ta buộc phải bỏ đi ý tưởng về “quyền sở hữu chính mình.”

Xét về bản chất, sự xấu xa của việc tự tử được nối kết với sự xấu xa của việc giết người, vì nó thô bạo chống lại phẩm giá vốn khiến con người là con người. Mạng sống không phải là tài sản riêng của mỗi người để có thể loại bỏ hay thủ tiêu khi thấy thích hợp, cũng tựa như sinh mạng của ai khác, việc tự giết chính mình bị cấm bởi cùng những lý do như giết người khác vậy.[193]

Hơn nữa, cũng có một chiều kích xã hội trong vấn đề này: mỗi người, với tư cách là thành viên của xã hội, có những bổn phận với xã hội, và xã hội có quyền đòi hỏi sự phục vụ của cá nhân. Bằng việc tự giết mình, cá nhân lấy đi sự thiện hảo của những thành viên khác, sự thiện hảo mà cá nhân được mời gọi đóng góp vào.[194]

  1. Vấn đề tội trạng

Giờ đây, sau tất cả những gì đã được nói liên quan đến luân lý, chúng ta phải khép lại bằng việc nhắc lại rằng, Giáo Hội khước từ việc “bỏ Chúa vào hộp.” Giáo Hội để cho Chúa ban phát lòng thương xót những nơi Người muốn, và cùng một lúc thừa nhận rằng, mặc dù có một quy luật hành xử đúng đắn khách quan, vấn đề tội trạng có thể và thực sự biến đổi tùy thuộc những hoàn cảnh ngoại tại cũng như tình trạng nội tại của mỗi cá nhân.

<1 ... 89 10 1112 ... 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!