Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

Tiền đề căn bản của thuyết tư lợi là giả như mỗi người có hành xử ích kỷ đi nữa, thì kết quả thực sự tất thảy vẫn là được thêm hạnh phúc. Chúng ta tìm thấy điều đó trong cốt lõi của chủ nghĩa tư bản, vốn dạy các môn đồ của mình rằng, hành vi kinh tế mang tính tư lợi là động cơ thúc đẩy tiến trình kinh tế; chúng ta cũng tìm thấy điều đó ở cốt lõi của chủ nghĩa tự do tính dục, vốn chủ trương rằng, nếu cứ “kệ người ta,” chúng ta sẽ hạnh phúc và phong lưu hơn. Cả hai chủ thuyết đều dạy con người nghĩ rằng ích kỷ là con đường gián tiếp dẫn đến lòng vị tha. Nhờ chăm sóc chính mình, và để người khác làm như thế, xã hội mang đến ích lợi cho toàn thể, dẫu bạn không bao giờ có chủ ý hành động bất vị kỷ. Một người có thể chăm sóc tốt nhất cho xã hội nhờ biết chăm sóc cho chính mình. Theo đó, cuối cùng Tin Mừng trở nên chẳng còn liên hệ hay phù hợp gì nữa. Thậm chí chưa hết, nếu người ta tin ích kỷ là chìa khóa dẫn tới hạnh phúc và là động cơ thúc đẩy tiến trình, thì bất vị kỷ trở thành một thói xấu và Tin Mừng không những không còn phù hợp mà còn bị đảo ngược: các giáo huấn trong đó chỉ là thừa thải, đích thực là một thứ phiền hà và cần phải tống khứ đi. Mặc dù có vẻ cường điệu, nhưng nó chính xác là những gì đã xảy ra nơi các triết lý vị kỷ nổi tiếng, chẳng hạn triết lý của Ayn Rand (một tiểu thuyết gia, 1905 – 1982).

  1. Một kiểu diễn đạt của chủ nghĩa duy kết quả

Ở đây chúng ta bắt đầu hiểu được vì sao cần thiết phải nhắc đi nhắc lại các nguyên tắc luân lý Công giáo ở phần trước trong nghiên cứu của chúng ta.[251] Chúng ta thấy rằng, hành vi cụ thể của con người và ý chí đằng sau hành vi phải tương hợp với điều thiện hảo mới khiến cho hành vi đó có tính luân lý. Nếu tự bản chất tư lợi là bệnh hoạn, thì nó chẳng là gì ngay cả khi nó mang lại cho thế giới này cả một khối tiền khổng lồ. Chúng ta không được làm điều xấu, để từ đó đạt tới điều tốt, và đó là tất cả những gì dành cho nó. Chẳng ai đi tung hô một người “không chủ tâm” giúp ích cho xã hội đang khi chỉ muốn làm lợi cho chính mình. Học thuyết tư lợi thất bại không phải vì thiếu giá trị hữu ích (mặc dù nhiều luận cứ chắc chắn có thể cho thấy điều đó), nhưng là vì thói quen mà nó làm thấm nhập vào tâm hồn. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì?[252]

  1. Tư lợi cung cấp nhiên liệu cho sự lớn mạnh của Nhà nước

Cũng đáng để đề cập đến việc Thánh Tôma Aquinô đã chấp nhận rằng, khuynh hướng hướng về tư lợi chính là một trong những lý do phải có chính phủ. Điều hợp lý ở đây là, khi người ta càng ích kỷ, người ta càng cần được Nhà nước quản thúc. Càng nhấn mạnh tư lợi, càng cần đến một thẩm quyền cao hơn để lo cho ích chung: “Vì nơi nào có nhiều người mà mỗi người chỉ biết lo cho lợi ích riêng của mình, nơi đó sẽ bị vỡ nát và phân tán, trừ phi có một cơ quan chăm lo những gì thuộc về ích chung.”[253]

Trong một xã hội hoàn toàn bị tư lợi, “cơ quan” nào sẽ ở đó để chăm lo ích chung nếu không phải là Nhà nước chuyên chế? Và đây chính là điều mà Giáo Hội không mong muốn. Nhà nước có một tầm ảnh hưởng chính đáng vốn lớn hơn những gì mà những người ưa thích điều mới mẻ muốn thừa nhận, thế nhưng ngày nay Nhà nước đã bị loại ra ngoài tầm ảnh hưởng này bởi chính chủ nghĩa cá nhân đòi lên án Nhà nước vì đã vượt quá quyền hạn. Thông qua chủ nghĩa cá nhân và học thuyết tư lợi, tất cả những nhóm và hiệp hội trung gian bị tan vỡ, chỉ còn lại Nhà nước nhặt nhạnh những mảnh vụn, và dần lớn lên trở thành một cơ chế khổng lồ và mạnh mẽ:

“… Nhiều thứ đã phải trải qua một sự dữ mà chúng ta gọi là ‘chủ nghĩa cá nhân’ đến nỗi, theo sau việc lật đổ và gần như tiêu diệt hoàn toàn sự phong phú của đời sống xã hội vốn đã từng được phát triển đến mức độ rất cao nhờ các hiệp hội khác nhau, giờ đây, gần như tất cả chỉ còn lại các cá nhân và Nhà nước.”[254]
  1. Động lực thu lợi nhuận xét như động cơ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Rõ ràng lợi nhuận có một vai trò phải đảm nhận, cả từ phía quan điểm về động cơ cá nhân lẫn như phần thưởng cho lao động, đồng thời cũng là thước đo sự thành công của một tổ chức kinh doanh. Tuy nhiên, khi chỉ tìm kiếm chính mình, tức khắc lợi nhuận trở thành một thói tham lam tầm thường.

“Nguyên tắc làm tăng lợi nhuận đến cực độ, vốn là một nguyên tắc thường xuyên bị tách biệt khỏi những cân nhắc khác, phản ánh một sự nhầm lẫn trong cách hiểu về chính khái niệm kinh tế.”[255]

Việc theo đuổi lợi nhuận tối đa một cách mù quáng không chỉ dẫn đến tình trạng lạm dụng công nhân, những người phải dựa vào đồng lương để sống,[256] mà nó còn có thể che khuất sự kiện này là, khả năng sinh lợi nhuận, tự nó, không có nghĩa một hoạt động kinh doanh đóng vai trò tích cực trong xã hội.[257] Trái lại, “vẫn có thể xảy ra việc tình trạng tài chánh vững vàng nhưng với con người – thứ tài sản giá trị nhất của một hãng xưởng – lại bị hạ nhục và nhân phẩm của họ bị chà đạp.”[258] Mục tiêu của lợi nhuận, vốn hợp pháp trong nhiều giới hạn và là thước đo thể trạng của công ty, phải được giữ sao cho hài hòa với nhân phẩm con người cũng như hài hòa với mối quan tâm đúng đắn dành cho sự lành mạnh của môi trường xung quanh, cả hai yếu tố này đều là những giá trị vượt trội hơn lợi nhuận.[259]

Có lẽ kết quả rối nhất của một khát vọng ôm trọn lợi nhuận là thực tế rằng nó chắc chắn loại trừ tất cả mọi doanh nghiệp và cá nhân, những người sẽ chọn cách hoạt động bằng một động lực khác, và điều này là bất công. “Điều cũng cần thiết là trong thị trường, phải tạo không gian hoạt động cho những người muốn chọn lựa hành động theo những nguyên tắc khác hơn là chỉ chạy theo lợi nhuận, nhưng vẫn mang lại giá trị kinh tế.”[260]

  1. Thị trường tự trị và thị trường “tự do”

Chúng ta không thể tìm thấy nơi nào trong giáo huấn Công giáo sự ủng hộ quyền tự trị hoàn toàn của thị trường (ý tưởng cho rằng thị trường có khả năng “tự điều chỉnh” mà không cần bất cứ sự can thiệp nào từ ngoài hay từ trên). Trái lại, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II khẳng định rằng “xác tín cho rằng kinh tế đòi buộc phải có sự độc lập và không thể bị vấn đề luân lý ảnh hưởng, đã dẫn con người đến chỗ lạm dụng tiến trình kinh tế theo cách thức hoàn toàn phá hoại.”[261]

Mặc dù hợp pháp khi bàn về “quyền tự trị” với sự tôn trọng dành cho các hoạt động kinh thế, thế nhưng điều muốn nói ở đây luôn là một sự tự trị mang tính tương đối, vốn phải được giới hạn trong những trật tự cao cấp hơn, đó là một trật tự đạo đức:

“Giáo huấn xã hội của Hội Thánh, trong khi nhìn nhận thị trường như một công cụ không thể thay thế cho sự kiểm soát các công việc bên trong của hệ thống kinh tế, đã chỉ ra sự cần thiết cho thị trường là phải được cắm rễ chắc chắn vào các mục tiêu đạo đức, vốn đảm bảo và đồng thời giới hạn không gian thích hợp trong cái mà nó có thể hoạt động cách độc lập.”[262]

Và vì vậy, cuối cùng chúng ta cũng nhận thấy rằng cái gọi là “thị trường tự do”, một khái niệm liên quan đến các điều kiện cụ thể của sự tự do kinh tế mang tính tương đối trong một trật tự chính trị cụ thể, luôn luôn bị giới hạn và điều khiển bởi các nhu cầu của trật tự chính trị đó. Nếu chúng ta cho phép sự tự do tương đối của thị trường trở nên tuyệt đối, thì chúng ta cũng cho phép một điều tốt hợp pháp biến thành một nguồn gốc của sự xấu xa:

“Tất cả những điều này có thể được tóm tắt bằng cách lập lại một lần nữa là tự do kinh tế chỉ là một yếu tố trong tự do của con người. Khi nó trở thành tự lập, khi con người được nhìn xem nhiều hơn như là người sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm hơn là đối tượng cho việc sản xuất và tiêu thụ để sống, lúc đó tự do kinh tế mất những mối dây liên lạc cần thiết đối với con người và kết cục đi tới chỗ xa cách và đàn áp con người.”[263]

Như đã lưu ý bên trên rằng bất kỳ loại hình tự do nào, nhằm mục đích duy trì tình trạng hợp pháp, đều buộc phải duy trì một nối kết vững bền với chân lý và sự thiện hảo. Cũng thế, tự do kinh tế cũng phải được đặt trong toàn bộ bối cảnh luân lý.

  1. Luân lý và thuyết kinh tế

Giáo Hội nhấn mạnh rằng luôn luôn có nhiều hệ luận luân lý cho hoạt động kinh tế.[264] Trong những lời của Đức Bênêđictô XVI, đã được trích dẫn trong ở phần đầu nhưng vẫn có giá trị để lặp lại ở đây: “Mọi quyết định kinh tế đều có một hệ quả luân lý.”[265] Nói cách khác, các nền kinh tế, giống như các ngành khoa học tự nhiên, không thể được quan niệm như được điều hành bởi một hệ thống các định luật máy móc, nơi mà sự phán quyết luân lý không có tiếng nói. Đó là lý do tại sao, cho đến gần đây, lãnh vực đó được gọi là “kinh tế chính trị” và không bao giờ được gọi đơn giản là “các nền kinh tế.” Hơn nữa, khía cạnh luân lý của thị trường không chỉ gồm những hoạt động đặc thù về mua bán, nhưng còn trải rộng đến các lãnh vực đầu cơ và sử dụng công cụ tài chính vốn đang trở nên rất trừu tượng và phức tạp.[266] Bởi công bằng là trung tâm điểm cho hoạt động kinh tế, nên chúng ta không được phép lãng quên xem xét công bằng trong mọi giai đoạn của tiến trình đó.[267]

Để tóm kết, chúng ta tham khảo Thông điệp Quadragesimo Anno:

“Mặc dù các nền kinh tế và khoa học luân lý sử dụng các nguyên lý riêng trong lãnh vực riêng, tuy nhiên, thật sai lầm khi nói rằng kinh tế và các loại hình luân lý rất khác biệt và xa lạ với nhau, rằng kinh tế không phụ thuộc vào luân lý. Tất nhiên các luật lệ kinh tế, như đã đề cập, vốn được đặt nền trên bản chất của sự vật vật chất và trên khả năng của thể xác và trí tuệ con người, quyết định những giới hạn của cái hiệu quả mà nỗ lực của con người không thể làm được, và của cái mà nó giành được trong lãnh vực kinh tế và bằng phương tiện nào. Song chính lý trí cho thấy cách rõ ràng, trên cơ sở bản tính cá nhân và xã hội của vật chất và con người, mục đích mà Thiên Chúa quy định cho tất cả mọi đời sống kinh tế. Thế nhưng, luật luân lý cũng như nó đòi buộc chúng ta kiếm tìm cứu cánh tối thượng và tối hậu trong mọi hoạt động, thì cũng đòi buộc chúng ta tìm kiếm trước tiên trong mỗi kiểu hoạt động những mục đích mà chúng ta biết nhờ tự nhiên, hoặc hơn nữa là biết Thiên Chúa, tác giả của tự nhiên đó, thiết lập cho kiểu hoạt động ấy, và trong mối tương quan có thứ cấp thì những mục tiêu trước mắt nhất phải phụ thuộc vào cái cùng đích cao nhất và sau nhất của chúng ta.”[268]
  1. Chủ nghĩa tiêu thụ

Qua việc lẫn lộn số lượng với phẩm chất, việc sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng kinh tế đã được nhìn nhận như là cùng đích nơi chính nó. Điều này dẫn đến chủ nghĩa tiêu thụ, một não trạng cho rằng “sự tăng trưởng kinh tế” luôn luôn có lợi, dẫu được thực hiện bằng bất cứ phương tiện nào và không tôn trọng phẩm chất hay bản chất các hàng hóa được sản xuất, cũng như không quan tâm đến những yêu cầu của công chúng. Mặc dù điều đó bắt nguồn từ ước muốn lành mạnh là để cải thiện điều kiện sống của con người, thế nhưng nó đã nhanh chóng biến đổi thành một cái gì khác:

“Một nền văn hóa để lộ quan niệm toàn bộ về cuộc sống qua sự lựa chọn về sản xuất và tiêu thụ. Chính tại đây hiện tượng chủ nghĩa tiêu thụ nảy sinh. Khi liệt kê các nhu cầu mới và các phương tiện mới để thỏa mãn các nhu cầu đó, người ta cần được hướng dẫn bởi một hình ảnh toàn diện về con người trong đó phải tôn trọng tất cả các chiều kích của con người và đặt những chiều kích vật chất và theo bản năng phụ thuộc vào các chiều kích nội tâm và tinh thần. Nếu trái lại, chỉ có sự kêu gọi trực tiếp đối với thị hiếu theo bản năng của mình – trong khi bằng nhiều cách khác nhau bỏ quên thực tại về con người với bản chất tự do và thông minh – khuynh hướng và nếp sống tiêu thụ có thể được tạo ra nhưng về mặt khách quan nó không chính đáng và làm hại cho sức khỏe về thể xác và sự lành mạnh về tinh thần. Một hệ thống kinh tế tự nó không có tiêu chuẩn phân biệt giữa những hình thức mới hoặc cao hơn để thỏa mãn những nhu cầu của con người với những nhu cầu giả tạo mới hàm ý tạo ra một nhân cách trưởng thành. Do đó cần rất nhiều công tác giáo dục và văn hóa, gồm có việc giáo dục người tiêu thụ để họ có thể sử dụng quyền lựa chọn một cách có trách nhiệm, việc gây một ý thức trách nhiệm mạnh mẽ nơi các các nhà sản xuất và nơi những người làm công tác truyền thông đặc biệt cũng cần sự can thiệp của nhà cầm quyền… Không có gì sai lầm khi muốn sống khá hơn; chỉ có lầm là cách sống cho là khá hơn đó thực ra chỉ hướng về chuyện ‘có’ hơn là ‘được’ và muốn có hơn không phải để được tốt hơn, nhưng để sống và coi hưởng thụ như là mục đích tối hậu.”[269]

Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh điều này rất nhiều lần,[270] với tiêu điểm chính mà Ngài gọi là “văn hóa xài rồi vứt đi.”[271]

  1. Các tổ chức trung gian – các công đoàn

Giáo Hội khuyến khích việc hình thành nên cái được gọi là “các tổ chức trung gian,” “các nhóm trung gian,” hay “các hiệp hội trung gian” vốn có thể hàn gắn lại sự khác biệt giữa người chủ và người lao động nảy sinh từ việc tập trung tài sản.[272] Thường khi đề cập đến những gì thuộc về “xã hội dân sự,” người ta muốn nói đến các nhóm xã hội trung gian.[273] Trong ý nghĩa đó, các nhóm trung gian hình thành mối dây liên kết giữa gia đình và Nhà nước theo cách thức mà “thứ tự thang bậc” được nguyên tắc bổ trợ có thể được thực hiện ở mức độ đầy đủ nhất.

Liên quan rất gần với lời kêu gọi trên đây dành cho các tổ chức trung gian, dù rằng nó phục vụ cho một mục đích cụ thể hơn nhiều, đó là các đoàn thể công nhân được biết đến với tên gọi các công đoàn. Các công đoàn này “phát triển từ cuộc đấu tranh của các công nhân – nói chung nhưng đặc biệt phải kể đến là các công nhân công nghiệp – để bảo vệ những quyền lợi chính đáng của họ chống lại những doanh nhân và giới chủ nhân các phương tiện sản xuất.”[274] Trong quá khứ, các công đoàn bắt buộc phải có khi người lao động bị tách rời khỏi người chủ thuê và tạo thành một giai cấp với những người mà sức mạnh duy nhất của họ trong thị trường chính là giá cả mà họ có thể có được từ sức lao động của mình. Vì tình thế như vậy chắc chắn sẽ đẩy người lao động vào tình trạng bất lợi rõ rệt, cho nên các công đoàn ngày nay đóng một vai trò thiết yếu trong xã hội[275] và được xem là thành phần thuộc về “quyền hội đoàn” (hay quyền lập hội):

“Tất cả các quyền trên đây, cùng với nhu cầu của công nhân phải bảo vệ các quyền đó, ta thấy xuất hiện một thứ quyền lợi khác: quyền hội đoàn, nghĩa là quyền được liên kết, hiệp hội để bảo vệ các quyền lợi sinh tử của những người làm việc trong các ngành nghề khác nhau. Các hiệp hội ấy được gọi là nghiệp đoàn lao động hay thương mại.”[276]
  1. Giá cả công bằng

Sự khôn ngoan quy ước làm cho chúng ta tin rằng thị trường có tiếng nói sau cùng một khi nó đi tới việc định giá hàng hóa, và sự dao động giá trị luôn luôn tương hợp với các biến chuyển thực tế về giá trị của sự vật dựa trên nguồn cầu chính đáng vốn được kết nối với sự khan hiếm hay dư thừa trong nguồn cung. Được thêm vào nguyên lý lợi nhuận lớn nhất, cạnh tranh, và tư lợi, điều đó có nghĩa là người bán sẽ luôn luôn theo đuổi giá cao nhất, và người mua đợi giá thấp nhất, và điều đó sẽ tự động đi đến điểm cân bằng, và giá trị đặt trên điểm cân bằng đó sẽ là công bằng nhất. Thế nhưng, nên biết rằng các sự việc không bao giờ quá giản dị như vậy, và một quan niệm giản đơn là kết quả của tư tưởng có tính ý thức hệ trong việc cố gắng chuyển đổi hoạt động kinh tế thành một tiến trình phi đạo đức giữa hai cá nhân ích kỷ.

Nội dung trang này
<1 ... 1213 14 1516 ... 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!