Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

Một khi chủ nghĩa duy kinh tế trở thành quan điểm thống trị xã hội, “ý niệm” về con người đương nhiên bị xấu đi. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II mô tả tiến trình lịch sử của nó như sau:

“Sau một thời gian dài ấp ủ trong đời sống thực hành, ý niệm nhất quán này, nơi mà nguyên tắc con người ưu việt hơn sự vật hoàn toàn được bảo vệ, đã bị đổ vỡ trong tư tưởng nhân loại. Sự đổ vỡ đó đã xuất hiện theo cách thức mà trong đó lao động bị tách rời và bị đặt vào tư thế đối nghịch với tư bản, và ngược lại, tư bản đối nghịch với lao động, như thể chúng là hai lực lượng phi nhân, hai nhân tố sản xuất song đối trong cùng một chiều kích “kinh tế” vậy. Lối phát biểu vấn đề như thế chứa đựng một sai lầm căn bản, điều mà chúng ta gọi là sai lầm của chủ nghĩa duy kinh tế, vốn chỉ xem lao động con người theo mục đích kinh tế mà thôi. Tư tưởng sai lầm căn bản này có thể và phải được gọi là sai lầm của chủ nghĩa duy vật, trong đó chủ thuyết duy kinh tế, cách trực tiếp hoặc gián tiếp, hoàn toàn tin tưởng vào tính ưu việt và ưu tiên của vật chất, đồng thời, trực tiếp hoặc gián tiếp, đặt giá trị tinh thần và nhân vị (hành vi nhân linh, các giá trị luân lý cùng những vấn đề thuộc loại này) vào vị trí suy phục thực tại vật chất. Tuy đây vẫn chưa phải là chủ nghĩa duy vật lý thuyết theo nghĩa đầy đủ, thế nhưng chắc chắn nó là chủ nghĩa duy vật thực hành, một loại hình duy vật được xét là có thể thỏa mãn được các nhu cầu của con người, không phải trên nền tảng các tiền đề bắt nguồn từ lý thuyết duy vật, mà là trên những nền tảng của một cách thức đánh giá sự vật cụ thể, và vì thế, trên nền tảng của một hệ trật lợi ích nào đó được đặt nền trên sự hấp dẫn tức thời lớn lao hơn của những gì thuộc về thế giới vật chất.”[224]
  1. Giáo huấn về việc tư hữu phổ biến

Giải pháp mà Giáo Hội đề xuất cho những sai lầm trên đây được đặt nền trên bản chất và nhu cầu của con người, giờ đây có thể nêu lên trong ba trích đoạn ngắn lấy từ Thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự). Thông điệp tiêu biểu cho ý tưởng về một nền kinh tế “ly tâm,” trong đó tiêu chuẩn chính là việc tài sản được phân phối cách rộng rãi.

Đầu tiên Đức Giáo hoàng Lêô XIII lưu ý đến những hoàn cảnh đáng buồn mà chủ nghĩa tư bản vô độ gây ra:

“… Việc thuê mướn lao động cũng như việc quản trị kinh doanh chỉ tập trung vào tay của một số ít người; để rồi chỉ một số ít người giàu có này có thể đặt lên vai đám dân lao động nghèo khổ một cái ách chẳng khác gì cái ách của người nô lệ.”[225]

Tiếp đó, Ngài lên án giải pháp của chủ nghĩa Matxit:

“Để chữa trị những sai lầm của chủ nghĩa tư bản, các nhà chủ nghĩa xã hội, vốn khai thác sự đố kỵ của dân lao động nghèo khổ đối với người giàu có, ra sức loại trừ quyền tư hữu và khẳng định rằng, tất cả của riêng đều phải trở thành của chung… Thế nhưng, những lý lẽ này rõ ràng không có khả năng kết thúc cuộc tranh luận mà chúng ảnh hưởng đến dân lao động, vốn là những người phải chịu đựng đầu tiên.”[226]

Cuối cùng, Ngài đề xuất một giải pháp đúng đắn, đối nghịch với cả hai chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội:

“… quyền sở hữu cá nhân phải là quyền dành riêng và bất khả xâm phạm. Vì thế, luật pháp nên ủng hộ quyền sở hữu, cũng như nền chính trị phải thuyết phục bao nhiêu có thể các người dân trở thành những chủ sở hữu.”[227]
  1. Lao động của con người
  2. Lao động là lợi ích

“Lao động mang đến ích lợi cho con người, một lợi ích cho nhân tính của họ – bởi vì, nhờ lao động, không những con người biến đổi thiên nhiên bằng cách thích ứng nó với nhu cầu riêng của mình, mà còn có thể đạt tới sự thành toàn xét như một hữu thể người và thực sự, theo một nghĩa nào đó, nhờ lao động, ‘con người trở nên người hơn.’”[228]

Giống như ngày Sabát, lao động là vì con người, chứ không phải con người vì lao động.[229] Lao động là lợi ích. Và không chỉ là lợi ích nhưng còn là một bổn phận:

“Như đã nói, lao động là một bổn phận, tức là một nhiệm vụ, thuộc về phận người… Con người phải làm việc không phải chỉ vì đó là mệnh lệnh của Đấng Sáng Tạo, nhưng còn vì chính nhân tính của họ, vốn phải lao động để có thể duy trì và phát triển thêm. Con người phải lao động vì người khác, nhất là đối với gia đình mình, cũng như đối với xã hội mà họ thuộc về, đối với đất nước mà họ là công dân, đối với toàn thể đại gia đình nhân loại mà họ là thành viên, lý do vì họ là người thừa hưởng công sức lao động của những thế hệ đi trước và đồng thời cũng là người đồng lao cộng tác trong việc tạo dựng tương lai cho những kẻ đến sau trong tiến trình lịch sử.”[230]

Bởi vì ý thức được những lợi ích đó nên chúng ta có thể thừa nhận rằng, trong những hoàn cảnh thông thường, con người khao khát lao động. Con người không cố nhiên lười biếng như những người bi quan về xã hội muốn chúng ta tin thế. Con người cảm thấy bị thúc bách hành động qua nỗ lực phát triển những tài năng cũng như rèn luyện nhân cách của mình qua hoạt động sản xuất. Đó là cái lao động mang lại, và qua việc hoàn thành mục đích đó, chứ không chỉ đơn thuần thỏa mãn các nhu cầu vật chất, lao động được xem là lợi ích. Thiếu đi những lợi ích “siêu kinh tế” như vậy, lao động không ích lợi gì cả bởi nó không còn nhân tính nữa. Khi bị coi là một công cụ sản xuất vật chất và không là gì khác thì lao động trở thành sự nặng nhọc đơn thuần mà thôi.

Sự kiện con người thời hiện đại được dạy phải biết ơn bất kỳ loại hình lao động nào, đơn giản vì nó ít nhiều “mang tính sản xuất,” là bằng chứng cho một kiểu ngẫu tượng lao động.[231] Việc khả thể có loại lao động mang tính sản xuất nhưng không mang tính lợi ích không có chỗ đứng trong suy tư của chúng ta, thế nhưng lại được tìm thấy trong triết học Kitô giáo. C.S. Lewis công nhận điều đó và một số ít người gọi C.S. Lewis là kẻ bi quan:

“… Đại đa số dân chúng thuộc các xã hội công nghiệp hóa toàn diện đã trở thành nạn nhân của một hoàn cảnh mà nơi đó ý tưởng về Lợi ích Lao Động gần như bị loại trừ ra bên ngoài. Một đồ vật nếu không được làm ra theo cách như vậy, nó sẽ trở thành phế thải trong vòng một hoặc hai năm, cho nên phải bị thay thế, và như vậy, bạn sẽ không thu lại đủ doanh số. Trước đây 100 năm, khi một người đàn ông đi lấy vợ, anh ta làm cho mình một cỗ xe ngựa (nếu đủ giàu có) và mong có thể sử dụng đến hết phần đời còn lại. Giờ đây, người ta mua một chiếc xe hơi và mong có thể bán lại trong vòng hai năm. Lao động ngày nay không được phép mang tính lợi ích.”[232]

Lewis đưa ra hai ví dụ – mại dâm và quảng cáo – mà ông xem là cùng loại với nhau (dẫu không tương đương về mặt luân lý).[233] Trong thế giới vật chất, để một yếu tố có thể làm cho lao động mang tính ích lợi, ngoài việc mang lại một hiệu quả tốt đẹp, nó còn phải thỏa mãn được những nhu cầu chủ quan của con người.[234]

  1. Mục đích chủ quan và khách quan của lao động

Sự phân biệt là quan trọng, và vì cuộc chiến chống lại ý thức hệ hiện đại chính là cuộc chiến tìm lại sự phân biệt, mà một phần quan trọng trong nghiên cứu của chúng tôi chính là một lần nữa đưa sự phân biệt tinh tế ấy vào trong khung cảnh của nền kinh tế. Điều này có tầm quan trọng đặc biệt khi chúng ta đang thảo luận về giá trị của lao động con người, vốn khác với “lao động” thuần túy cơ giới như sự vận hành của máy móc, phải được suy xét dưới cả hai quan điểm chủ quan và khách quan, mỗi quan điểm đều có một mục đích chính đáng riêng.

Ý nghĩa khách quan của lao động là quen thuộc với chúng ta nhất, và thực vậy, nó thường là ý nghĩa duy nhất vẫn còn được giữ lại cho đến ngày nay. Ý nghĩa này được thể hiện qua lệnh truyền “hãy thống trị mặt đất” và được diễn tả qua việc canh tác ruộng đất, thuần dưỡng súc vật, và hoàn thiện công nghệ để định hình các năng lực sáng tạo vật chất theo ý chí con người.[235] Những bước tiến lớn lao trong khoa học và nghiên cứu, vốn được Giáo Hội nắm bắt đầy đủ trong những giới hạn phù hợp của chúng, mỗi thứ đóng một phần trong việc hiện thực hóa ý nghĩa khách quan của lao động.

Nếu giờ đây chuyển sang ý nghĩa chủ quan của lao động, chúng ta sẽ tự thấy mình lạc vào một vùng đất khá xa lạ. Và tuy vậy, trở lại với lệnh truyền “hãy thống trị mặt đất,” vốn gắn liền với ý nghĩa khách quan của lao động, chúng ta nhận thấy rằng, chỉ trong ý nghĩa chủ quan mà chúng ta có thể hiểu tại sao con người được ban cho lệnh truyền ấy. Quyền gì mà con người thống trị thế giới thọ tạo? Ở đây chúng ta thấy rằng, ý nghĩa khách quan giả định trước một chủ thể có trách nhiệm, tức là một nhân vị:

 “Con người phải chế ngự trái đất, phải bắt nó phục tùng, vì họ là ‘hình ảnh của Thiên Chúa,’ họ là một nhân vị, nghĩa là một chủ thể, một chủ thể có khả năng hành động một cách có kế hoạch và hợp lý, có khả năng tự quyết định và hướng tới sự thành tựu của bản thân mình. Chính vì là một nhân vị, nên con người mới là chủ thể của lao động, bất kể nội dung khách quan của nó như thế nào, các hoạt động này phải thực hiện nhân tính của con người và hoàn thành thiên chức của một nhân vị hay ơn gọi làm người của mình.”[236]

Chân lý về “các nguồn gốc phẩm giá của lao động không thể tìm thấy nơi chiều kích khách quan nhưng phải tìm nơi chiều kích chủ quan của nó,”[237] nằm ở trọng tâm của truyền thống Công giáo. Điều chúng ta phải đòi hỏi trước tiên nơi lao động là yếu tố con người, và chỉ khi đó, chúng ta mới có thể bắt đầu đo lường được hiệu quả công nghiệp của nó. Sự vô tri của chúng ta trước quyền ưu tiên của yếu tố chủ quan, tức tính ưu việt của nhân vị trong lao động, là bằng chứng xa hơn nữa của sự đảo lộn các nguyên tắc vốn sẽ xảy ra khi não trạng duy kinh tế kiểm soát một nền văn minh.

  1. Chủ thuê trực tiếp và gián tiếp

Một sự phân biệt hữu dụng khác mà nếu thiếu nó trong việc ứng dụng sẽ gây ra tai hại nghiêm trọng đó là sự phân biệt giữa chủ thuê trực tiếpgián tiếp:

“Sự phân biệt giữa chủ thuê trực tiếp và gián tiếp được nhìn nhận là rất quan trọng khi người ta xem xét cả cách thức tổ chức lao động thực sự, lẫn khả năng hình thành nên những mối tương quan công bằng hoặc bất công trong lĩnh vực lao động.”[238]

Việc công nhận chỉ có một hình thức chủ thuê trực tiếp đã trở thành thói quen, nhiều đến nỗi ngày nay khi có ai đó bàn về khái niệm thuê mướn lao động, đó là họ đang muốn nói đến loại hình thuê mướn duy nhất này. Giả như chúng ta một lần nữa đưa khái niệm về chủ thuê gián tiếp vào, thì ngay lập tức chúng ta bị buộc phải công nhận sự tương thuộc thực sự giữa các quốc gia, cũng như giữa các cá nhân trong một quốc gia. Vậy thì, đâu là ý nghĩa của hai hạn từ này?

“Nếu chủ thuê trực tiếp là người hoặc là cơ quan ký kết với người thợ hợp đồng lao động theo những điều kiện ấn định rõ ràng, thì chủ thuê gián tiếp phải hiểu là những nhân tố khác biệt nhau, cùng với chủ thuê trực tiếp, tạo một ảnh hưởng nhất định đối với cách thế lập thành hợp đồng lao động, và do đó, là những mối quan hệ công bằng hay bất công trong lãnh vực của con người… Ý niệm chủ thuê gián tiếp bao gồm: những người, những cơ cấu tổ chức các loại, cũng như những hợp đồng tập thể về lao động, những nguyên tắc xử trí do những người và cơ cấu tổ chức nói trên thiết lập ra để xác định cả một hệ thống xã hội kinh tế, hoặc xuất phát từ hệ thống đó.”[239]

Tuy chủ thuê gián tiếp được cấu thành từ một tổ hợp cố định các yếu tố chính trị và xã hội, dầu vậy nó vẫn là một thực thể phân biệt phải được công nhận bởi vai trò của nó trong hoạt động kinh tế. Và vì cả chủ thuê trực tiếp lẫn gián tiếp đều có vai trò chính đáng nên cả hai cũng có những bổn phận tương xứng phải thi hành cùng một lúc:

“Trách nhiệm của chủ thuê gián tiếp với chủ thuê trực tiếp – chính các từ ngữ cũng chỉ rõ như thế: trách nhiệm sẽ không trực tiếp bằng – nhưng đó vẫn là một trách nhiệm thực sự: người chủ thuê gián tiếp ấn định bản chất hình thái này hay hình thái khác của quan hệ lao động và như thế, họ sẽ xác định luôn cách xử trí của chủ thuê trực tiếp, khi người này ấn định một cách cụ thể bản hợp đồng và các quan hệ lao động. Nhận xét đó không mục đích giải tỏa trách nhiệm cho người chủ thuê trực tiếp, vì họ có trách nhiệm của riêng họ, nhưng có ý lưu tâm đến những yếu tố chồng chất ảnh hưởng đến cách xử trí của họ. Khi cần đưa ra một chính sách lao động hợp với đạo đức, cần phải lưu ý đến tất cả những yếu tố đó. Chính sách này được coi là hợp với đạo đức khi các quyền lợi khách quan của người lao động được tôn trọng.”
“Ý niệm chủ thuê gián tiếp có thể đem áp dụng cho mỗi xã hội và trước hết cho chính phủ. Quả vậy, chính phủ có nhiệm vụ phải đưa ra áp dụng một chính sách lao động thật công bằng.”[240]

Tóm lại, vì xã hội chính trị hình thành nên khuôn khổ tổng quát trong đó những thỏa thuận lao động, điều kiện làm việc, và lương bổng đã được xác định, cho nên, khi tạo ra và định hướng những thỏa thuận đó, xã hội chính trị có trách nhiệm vượt lên trên và vươn xa hơn trách nhiệm của “chủ thuê trực tiếp.” Đó là một suy xét cần thiết trước khi tiếp tục đến với thỏa thuận cụ thể giữa chủ thuê và người lao động – thỏa thuận đó mang tên “hợp đồng lao động.”[241]

  1. Những thỏa thuận giữa chủ thuê và người lao động

Trong phần thảo luận về công bằng, chúng ta đã phân biệt giữa công bằng giao hoán, công bằng phân phối và công bằng xã hội. Các thỏa thuận trực tiếp giữa chủ thuê và người lao động được xếp vào phạm vi của công bằng giao hoán, vốn là loại công bằng trong trao đổi và là trật tự cơ bản nhất trong công bằng kinh tế. Tuy nhiên, những thỏa thuận này phải đáp ứng được các điều kiện cụ thể vượt xa “sự thỏa thuận đôi bên” để được xét là công bằng. Các thỏa thuận đó không nghiễm nhiên công bằng bởi chủ thuê đưa ra hợp đồng và người lao động chấp nhận, bởi vì quyền của người lao động không được chính họ quyết định, nhưng bởi một tiêu chuẩn khách quan khác:

“Hãy để cho công nhân và chủ thuê tự thỏa thuận với nhau và đặc biệt là cứ để đôi bên đồng ý về lương bổng; tuy nhiên, các điều đó nằm dưới một điều luật công bằng tự nhiên vừa cấp thiết hơn và lâu dài hơn bất cứ giao kèo nào giữa con người với nhau, cụ thể, lương bổng đó phải đủ cung cấp cho người lao động một mức sống đạm bạc và phù hợp với phong tục lành mạnh. Nếu như công nhân vì tình thế khẩn thiết hay bởi sợ hãi mắc họa ghê gớm hơn, phải chấp nhận những điều kiện khắt khe mà chủ lao động hay chủ hợp đồng đưa ra, thì anh ấy bị coi như nạn nhân của sự áp bức và bất công.”[242]

Thêm nữa đối với công bằng giao hoán, hợp đồng đó phải có thể được đưa vào xem xét như các yêu cầu của công bằng phân phối và xã hội.[243] Đây là kiểu “logic chính trị” vốn phải tham gia vào và hướng dẫn toàn bộ “logic kinh tế.”

“Đời sống kinh tế đòi hỏi những hợp đồng để điều chỉnh việc trao đổi dựa theo giá cả thích hợp. Nhưng đời sống này cũng cần đến những luật lệ thật công bằng và những hình thức tái phân phối do chính trị điều hành, và vượt lên trên là những công việc mang tinh thần của quà tặng. Kinh tế mang tính toàn cầu xem ra đề cao logic thứ nhất, tức là việc trao đổi theo hợp đồng, nhưng trực tiếp và gián tiếp cũng cho thấy nó cũng cần đến hai hình thức khác, đó là logic chính trị và logic quà tặng vô điều kiện.”[244]
  1. Những người liên hệ trực tiếp đến doanh nghiệp vượt trên những cổ đông

Sẽ thật tắc trách nếu chúng ta không đề cập đến vai trò của việc đầu tư trong tình hình kinh tế hiện nay, vốn được Giáo Hội công nhận trong các giáo huấn của mình. Tuy nhiên, để việc xem xét đó hợp chỉnh chúng ta phải giới thiệu một kiểu phân biệt thứ ba, vốn chỉ ra sự khác nhau giữa những người liên hệ trực tiếp đến doanh nghiệpnhững cổ đông.[245]

“Không nghi ngờ gì nữa, một trong những nguy hiểm lớn nhất rõ ràng là việc kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm đối với những người đầu tư, và cuối cùng giá trị xã hội phải bị bào mòn. Do sự tăng trưởng những chiều kích và nhu cầu vốn liếng ngày càng quan trọng, càng ngày càng ít những công ty có chủ điều hành ổn định, chịu trách nhiệm về đời sống và kết quả của công ty về lâu về dài, kể cả ngắn hạn cũng không, đồng thời việc kinh doanh ít khi lệ thuộc vào một vùng đất duy nhất. Ngoài ra, điều được gọi là di chuyển địa điểm hoạt động sản xuất sẽ làm giảm ý thức trách nhiệm của nhà đầu tư đối với những người nhận lợi ích, như công nhân, nhà cung cấp, người tiêu thụ, môi trường tự nhiên và nhìn xa hơn, xã hội chung quanh, vì những người hoạt động không bị ràng buộc vào một địa điểm xác định, luôn di chuyển bất thường. Thị trường tài chính quốc tế ngày nay thật sự là một sân chơi rộng lớn. Đồng thời, ý thức về sự cần thiết một trách nhiệm xã hội rộng khắp cũng đang lớn dần. Nếu như không phải mọi quan niệm đạo đức xác định sự tranh luận về trách nhiệm xã hội của kinh doanh, đều có thể được chấp nhận từ cái nhìn giáo huấn xã hội của Giáo Hội, thì thực tế có một xác nhận căn bản đang được phổ biến, theo đó việc hướng dẫn kinh doanh không được phép chỉ chú tâm vào lợi ích của những nhà tài chính, nhưng còn phải chú tâm đến lợi ích của những nhóm người khác nhau đã góp phần vào đời sống kinh doanh, như: những công nhân, những khách hàng, những người cung cấp các thành phần khác nhau trong sản xuất, cộng đoàn lệ thuộc vào đó.”[246]

Không thể nghiên cứu chi tiết riêng lẻ sự đa dạng của các quan điểm được đưa ra đây, tuy nhiên nó phải phục vụ cho việc minh họa nhu cầu phân biệt cần thiết trong các suy xét của chúng ta về nền kinh tế. Các thực thể liên hiệp đó có thể phải chịu áp lực từ những chủ tài chính “vắng mặt” với những lợi ích nhỏ hay ngắn hạn trong hoạt động kinh doanh, và không có ràng buộc nào với lãnh thổ địa lý của doanh nghiệp, dẫn đến khó thỏa thuận được với những người liên hệ trực tiếp đến tương lai của một doanh nghiệp.

  1. Cạnh tranh hay hợp tác?

Giáo Hội mời gọi sự cộng tác hầu vượt trên và chống lại sự cạnh tranh. Có thể liệt kê hàng tá trích dẫn,[247] thế nhưng chúng ta phải tự giới hạn ở một trích dẫn mà thôi. Nếu quan tâm, độc giả có thể tự mình tìm hiểu thêm.

“Cũng như không thể đặt tính hợp nhất của xã hội loài người trên sự đối chọi giữa các tầng lớp, ta không thể bỏ mặc trật tự đúng đắn của đời sống kinh tế cho sự cạnh tranh tự do giữa các lực lượng. Bởi vì từ nguồn gốc trên, giống như từ một dòng suối độc hại, đã khơi nguồn và làm lan tràn tất cả các sai lầm của học thuyết kinh tế mang tính cá nhân chủ nghĩa. Hủy bỏ thông qua quên lãng hay vô tri trước các đặc tính xã hội và luân lý của đời sống kinh tế, người ta đã tin rằng, đời sống kinh tế phải được xem xét và xử lý theo cách thức hoàn toàn thoát khỏi cũng như độc lập hoàn toàn với chính quyền, vì trong thị trường, cụ thể trong cuộc cạnh tranh tự do, sẽ có một nguyên tắc tự định hướng chi phối và ảnh hưởng cuộc cạnh tranh ấy một cách hoàn hảo hơn sự can thiệp của bất kỳ lý trí khôn ngoan nào. Tuy nhiên, sự cạnh tranh tự do, dẫu được điều chỉnh và quy định cách chắc chắn và hữu hiệu, thế nhưng nó vẫn bị giới hạn cách nào đó, và như thế rõ ràng không thể giúp định hướng đời sống kinh tế – đây là một sự thật đã được minh chứng cách đầy đủ khi đem ứng dụng trong thực tế những nguyên lý của tinh thần cá nhân chủ nghĩa xấu xa này.”[248]
“Sáng kiến cá nhân riêng lẻ và trò chơi cạnh tranh thuần tự do không bao giờ bảo đảm cho sự phát triển thành công. Chúng ta phải tránh nguy cơ ngày càng tăng của tầng lớp giàu có và quyền lực của kẻ mạnh thế, trong khi bỏ rơi những người nghèo khổ trong cảnh lầm than và còn chất thêm gánh nặng trong cảnh bị áp bức… Nền kinh tế trao đổi không còn đặt nền chỉ trên luật tự do cạnh tranh nữa, một thứ luật lệ, đến lượt mình, cũng thường tạo ra một chế độ độc quyền kinh tế. Tự do thương mại là ngay thẳng chỉ khi nó là chủ thể cho các đòi hỏi về công bằng xã hội.”[249]

Đối với khía cạnh cộng tác chúng ta phải thêm điều này:

Sáng kiến kinh tế là một sự biểu đạt trí khôn con người cũng như biểu đạt tính thiết yếu của việc đáp trả các nhu cầu con người theo lối sáng tạo và cùng nhau hợp tác. Sáng tạo và hợp tác là dấu chỉ của khái niệm đúng về sự cạnh tranh kinh doanh: một ‘cumpetere,’ nghĩa là, cùng nhau tìm kiếm những giải pháp phù hợp, theo cách thức tốt nhất, để đáp ứng những nhu cầu khi chúng xuất hiện.”[250]
  1. Tư lợi và động cơ lợi nhuận

Tư lợi và động cơ lợi nhuận, vốn là hai hạn từ tạo nên tiêu đề cho phần này, chính là một thứ chất độc tinh thần cho những xã hội đang gắng sức tiếp nhận chúng như những nguyên tắc điều khiển xã hội. Con người luôn luôn khao khát khám phá ra một thứ triết lý mà nhờ nó họ có thể tự xem mình là có luân lý, trong khi chẳng cần phải trở nên tốt trước tiên. Cuối cùng, chỉ gần đây thôi, con người mới đạt được thứ triết lý đó, và họ đã làm điều này nhờ thuyết về tư lợi.

Nội dung trang này
<1 ... 1112 13 1415 ... 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!