Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

Tuy nhiên, nếu chúng ta suy xét những điều đã nói ở trên, thì chúng ta sẽ nhận thấy điều đầu tiên và trước nhất là, tự do bao gồm hành vi phù hợp với sự thật và sự thiện, và hành vi nào trái với chân lý và tính tốt lành thì chỉ là tự do giả tạo. Do đó, Thánh Tôma Aquinô đã chú giải những lời của Chúa chúng ta như sau:

“Mọi thứ hành động theo cái hợp với tự nhiên. Vì thế, khi nó hành động dựa vào một sức mạnh bên ngoài mình, thì hẳn là nó không tự thân hành động, nhưng dựa vào một điều gì khác, đó là như một nô lệ. Nhưng con người tự bản chất là lý trí. Do đó, khi con người hành động phù hợp với lý trí, tự con người hành động và theo ý chí tự do; và đó là tự do. Nhưng ngược lại, khi con người phạm tội, con người hành động đối lập với lý trí, bị điều khiển bởi một điều gì khác, và trở thành nạn nhân của những sự hiểu lầm bên ngoài. Vì thế, ‘Bất cứ ai phạm tội là làm nô lệ cho tội.’”[141]

Đức Lêô XIII đã nhận xét rằng: ngay cả những người ngoại giáo cũng nhận ra sự thật này, khi họ nói rằng: chỉ có người khôn ngoan mới là tự do.[142]

Tuy nhiên, việc nghiên cứu của chúng ta sẽ không đầy đủ nếu chúng ta không đề cập đến khía cạnh thứ hai của giáo lý Giáo hội Công giáo liên quan đến nô lệ, điều này còn trái ngược hơn nữa với cách suy nghĩ hiện đại. Bởi vì tự do thường được xem như là một sự thiện tuyệt đối, nên thật dễ dàng để rút ra kết luận, một cách vô thức và tự động, rằng bất kỳ hình thức quy phục nào cũng không hợp với con người, và là điều xấu. Nhưng Kinh Thánh và giáo huấn ngàn đời của Giáo Hội lần nữa lại đưa ra một quan điểm vô cùng khác. Vì tự do nằm ở chỗ phù hợp với sự thiện, cho nên nói cho đúng thì nô lệ chỉ làm giảm giá trị của con người khi con người trở thành nô lệ cho tội; nhưng trái lại, trở thành nô lệ cho Thiên Chúa sẽ đạt đến thành tựu cao nhất về tự do.

Và như thế, chúng ta sẽ kết thúc bằng những lời răn dạy của Thánh Augustinô, như sau:

“Trong nhà của Thiên Chúa, nô lệ là tự do. Nó là tự do bởi vì nó phục vụ không vì bắt buộc, nhưng vì đức ái… Đức ái khiến bạn trở nên người tôi tớ, giống như chân lý đã giúp bạn tự do… Bạn vừa là một người tôi tớ vừa được tự do: một người tôi tớ, vì bạn đã trở nên như thế; tự do, vì bạn được Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa của bạn – yêu mến; thực vậy, bạn chỉ được phép yêu Đấng Tạo Hóa của bạn… Bạn vừa là tôi tớ Thiên Chúa vừa là người tự do của Người. Đừng bao giờ đi tìm kiếm một sự giải thoát nào khiến bạn rời xa ngôi nhà của Đấng Giải Thoát mình!”[143]
  1. Công bằng

Công bằng được định nghĩa ngắn gọn là “một nhân đức luân lý cốt tại một ý chí liên lỉ và vững chắc, quyết tâm trả lại những gì mình mắc nợ với Thiên Chúa và với người lân cận.”[144] Theo các thuật ngữ quen thuộc hơn, nó là mệnh lệnh truyền chúng ta phải hành xử với mọi người như thể họ là những ngôi vị, chứ không như thể họ là những thứ đồ vật nào khác. Nó liên quan đến thái độ và hành động của chúng ta không chỉ đối với các cá nhân, nhưng còn đối với cộng đồng của chúng ta và các cộng đồng khác, và ngược lại. Theo sách Tóm lược, nó là “những tiêu chuẩn mang tính quyết định cho biết giá trị luân lý của một hành vi” trong quan hệ xã hội.[145] Nhưng cho tới nay, chúng ta chỉ nói một cách chung chung và mơ hồ, và điều này sẽ vô ích đối với chúng ta khi nó được đem ra áp dụng và hành động. Vì thế, chúng ta phải đào sâu hơn nữa vào các vấn nạn về công bằng, xem xét nó theo cách thức truyền thống, và chia nó thành bốn phần: giao hoán, phân phối, pháp lý và xã hội. Bởi vì, công bằng thực chất là một nguyên tắc tương quan, nên nó được chia ra thành nhiều phần vốn phụ thuộc vào bản chất của mối tương quan trong vấn đề được bàn tới.[146]

  1. Công bằng giao hoán

Mối quan hệ kinh tế rõ ràng đầu tiên và trước nhất là tương quan giữa một người với một người khác trong việc trao đổi (buôn bán) hàng ngày. Vì hình thức này của công bằng liên quan đến giao ước giữa các cá nhân với nhau và hoàn toàn dựa vào nguyên tắc “bình đẳng trong trao đổi,” chúng ta còn gọi nguyên tắc này là công bằng giao hoán. Công bằng giao hoán quy định rằng, chúng ta phải trả cho người khác cái chúng ta mắc nợ họ và chu toàn các nghĩa vụ đã cam kết đến hết mức mà chúng ta có thể.[147]

  1. Công bằng phân phối

Tiếp đến, chúng ta sẽ đến với mối tương quan giữa cộng đồng nói chung và cá nhân. Khi chúng ta xem xét mối tương quan này theo quan điểm của cộng đồng, nó được gọi là công bằng phân phối, đối lại với công bằng pháp lý, cũng là một tương quan tương tự, nhưng xét theo quan điểm của cá nhân. Công bằng phân phối qui định những gì cộng đồng phải có đối với thành viên nào đã tham gia và tôn trọng luật pháp theo sự đóng góp và nhu cầu của họ.[148] Theo công bằng phân phối, những người cầm quyền phải phán đoán được rằng, liệu thị trường có đang hoạt động vì lợi ích của mỗi cá nhân một cách công bằng hay không, và nếu trường hợp này không xảy ra, thì khi đó, nó có hợp pháp để theo đuổi công bằng thông qua những sự điều chỉnh đối với các cấu trúc thị trường, cũng như thông qua các cơ chế về việc tái phân phối hay không.[149]

  1. Công bằng pháp lý

Cũng được gọi là “công bằng đóng góp,” công bằng pháp lý liên quan đến mối tương quan giữa cá nhân và cộng đồng nói chung. Khi được xem xét như thế, nó giống mối quan hệ của công bằng phân phối, nhưng lại theo một quan điểm ngược lại. Nó nhắm đến cá nhân, như những gì mà một người mắc nợ xã hội, nơi mà người đó đang sinh sống. Nghĩa vụ nộp thuế cho chính phủ nhằm góp phần vào công ích là một ví dụ cho công bằng pháp lý.[150]

  1. Công bằng xã hội

Cuối cùng, chúng ta sẽ nói đến quan niệm phổ quát nhất về công bằng, mà vì lí do đó nó được gọi là xã hội. Bởi bản chất của nó, hình thức công bằng này hạn chế tất cả những thứ khác –  sắp xếp, bắt phụ thuộc, nhưng không bao giờ loại trừ hay hủy diệt những hình thức khác.[151] Quan điểm này nhắm đến các vấn đề về cơ cấu và trình bày có hệ thống những giải pháp thích hợp ở tầm mức rộng.

  1. Ý thức hệ và sự giản lược công bằng

Sau khi đã miêu tả những loại công bằng khác nhau, vốn là tất cả những gì phải được xem xét khi thảo luận GHXH, giờ đây chúng ta có thể nhận thấy rằng, xét về mặt lịch sử, những phản đối gay gắt nhất chống lại công bằng không đến từ việc chối bỏ hoàn toàn công bằng, nhưng đúng hơn đến từ việc nhấn mạnh một phần của công bằng và loại trừ những phần còn lại. Nói theo cách khác, vấn đề công bằng xét về mặt lịch sử đã từng là một trong những hình thức thiên vị và đơn giản hóa thái quá. Đây là bằng chứng rõ ràng nhất khi xét lại lịch sử các ý thức hệ, vốn là những hình thức đơn giản hóa quá mức thực tại trong một nỗ lực giải quyết các vấn đề lớn bằng cách giản lược chúng. Ví dụ, ý thức hệ tư bản có một lịch sử khẳng định về tầm quan trọng của công bằng giao hoán (công bằng trong trao đổi) trong khi đó lại gạt bỏ hay phủ nhận giá trị của công bằng phân phối.[152] Mặt khác, xã hội chủ nghĩa gần như chỉ nhấn mạnh đến công bằng phân phối và hậu quả là lờ đi vai trò của công bằng giao hoán. Tư bản và xã hội chủ nghĩa, cả hai đều là những ý thức hệ thị trường, khai mở những vấn đề cố hữu trong những thế giới quan ngây thơ và đơn giản, vốn cố gắng nhắm đến tất cả các vấn đề xã hội chỉ trong một loại công bằng mà thôi. Đây cũng là lý do tại sao Giáo Hội rất thường xuyên tiếp nhận quan điểm của công bằng xã hội: không phải vì Giáo Hội thích loại công bằng này hơn loại công bằng kia, nhưng vì công bằng xã hội thâu tóm quan điểm rộng nhất có thể về lĩnh vực kinh tế và vì thế có khả năng kể đến cũng như sắp xếp trật tự những thành phần khác trong đó để rồi chúng có thể hoạt động hài hòa với nhau.

 

 

PHẦN IV. LUÂN LÝ

Giáo huấn xã hội Công giáo giả thiết những nền tảng luân lý của nó. Vì lý do này, mặc dù vẫn có thể bàn luận về học thuyết xã hội mà không đề cấp đến nền triết học luân lý, vốn giữ vai trò cấu trúc hạ tầng của học thuyết này, thế nhưng tốt nhất chúng ta không nên im lặng mà bỏ qua nó. Bởi vì, trước tiên, có nhiều khía cạnh trong các giáo huấn luân lý của Giáo Hội thậm chí vẫn còn xa lạ với nhiều tín hữu Công giáo; và thứ đến, vì, dưới ánh sáng của bài nghiên cứu này, những ai đã biết đến các giáo huấn này sẽ có dịp ôn tập lại.

  1. Luật tự nhiên (luật bản tính: natural law)
  2. Luật nào? Tự nhiên (bản tính) là gì?

Bất cứ khi nào người ta đề cập đến từ “luật tự nhiên,” thì ngay lập tức sẽ có một sự bối rối vốn luôn phát sinh do cách hiểu hiện thời về hạn từ “tự nhiên” (nature). Trong cách sử dụng hiện đại, người ta kết hợp các hạn từ “tự nhiên” với hạn từ “thiên nhiên,” vốn được hiểu như là những định luật vật lý và sinh học phổ quát cùng tất cả những gì thuộc thuyết cơ giới xảy ra trong cấp độ này. Hạn từ “tự nhiên” không bao hàm điều gì liên quan đến con người. Hạn từ này được dùng như một bối cảnh chung cho mọi cấp độ sự sống hơn là một đặc tính loại biệt nơi một thụ tạo.

Thế nhưng, khi bàn về “tự nhiên,” và cách đặc biệt khi bàn về luật tự nhiên, Giáo Hội đang nói về một điều rất khác. Đó là vì luật tự nhiên dạy rằng mỗi hữu thể đều có một “bản tính” riêng của chúng, và rằng, bản tính được ghi khắc này cũng tương ứng với một “luật bản tính” giúp cho hữu thể kiện toàn bản tính đặc thù của nó. Như vậy có thể suy ra rằng vấn đề “bản tính” sẽ luôn luôn khác biệt tùy thuộc vào chúng ta đang nói về thực vật, động vật, hay con người. Những gì đi theo “luật bản tính” cho một loại hữu thể thì có thể không áp dụng cho loại khác, vì chúng có những bản tính khác nhau. Đây là lý do vì sao cái khuynh hướng cho rằng hạn từ “bản tính” đơn thuần chỉ là nhu cầu sinh học, áp dụng cho mọi hữu thể vật chất theo cùng một cách thức như nhau, là một kiểu đơn giản hóa quá mức. Đúng hơn, khi quan tâm đến hành vi của con người, chúng ta quan tâm đến bản tính đặc thù của con người và, quan trọng hơn, quan tâm đến cùng đích cuối cùng mà bản tính này hướng đến.

Ví dụ, chúng ta có thể nói rằng ham muốn tình dục là “tự nhiên.” Nếu hiểu lầm “luật tự nhiên” là “nhu cầu sinh lý” thì khi đó chúng ta sẽ kết luận rằng việc chung chạ cũng là theo luật tự nhiên, vì chúng ta luôn thấy điều ấy nơi thú vật, và điều đó là điều cần thiết. Nhưng chúng ta không thể chuyển nguyên lý này lên trên một bản tính khác – ví dụ, lên trên bản tính loài người. Ham muốn tình dục vẫn là điều thuộc về luật tự nhiên trong bản tính con người, nhưng chỉ trong mức độ nó làm gia tăng sự phát triển của hữu thể hướng về sự toàn hảo tối hậu của nó mà thôi. Trong khi với bản tính loài vật, ham muốn tình dục gây ra vấn đề chung chạ, thế nhưng với loài người thì không. Vì thế, ham muốn tình dục thì “tự nhiên” đối với con người theo một cách thức khác với “tự nhiên” đối với loài vật, bởi vì con người có những quan năng khác cùng với một sự toàn hảo khác mà con người phải nhận ra. Con người có một bản tính khác và vì thế luật tự nhiên không định hướng con người với cùng cách thức như nó định hướng một loại thực vật; tương tự như vậy, thực vật được định hướng rất khác so với loài cá hay loài chim.

Để có được một cái nhìn phù hợp về chủ đề này, chúng ta phải quay trở lại với một ý niệm bao quát hơn về luật lệ vốn có khả năng gồm tóm cả một hệ thống cấp bậc các trật tự và bối cảnh, đồng thời có thể giải quyết sự đa dạng của các cấp độ sự sống mà chúng ta nhận thấy trong thế giới này. Trong thuật ngữ truyền thống, chúng ta phải trở lại với ba hệ trật của luật: vĩnh cửu, tự nhiên, con người.

  1. Luật vĩnh cửu

Trước một cộng đồng các hữu thể được vận hành bởi Đấng Tối Cao (Đấng đã điều hướng các hữu thể ấy tiến về sự thiện hảo của chúng), chúng ta nhận ra ở đây có quy luật nào đó. Nếu có nhiều loại cộng đồng khác nhau theo kiểu này, chúng sẽ được định hướng bởi những loại luật khác nhau. Bây giờ, điều trước tiên và trên hết của các cộng đồng này chính là vũ trụ. Vũ trụ và mỗi hữu thể bên trong đó được duy trì trong chính hiện hữu của chúng là bởi ý muốn của Thiên Chúa và hoạt động theo quy luật của Người. Từ quy luật đơn nhất này, vốn được gọi là luật vĩnh cửu, mà mọi sự đa dạng của luật được phát sinh.[153]

  1. Luật tự nhiên

Trong mỗi sự vật được tạo thành, có một khuynh hướng, được ghi khắc vào trong chính bản thể của thụ tạo, dẫn chúng đến một cùng đích nào đó. Những cùng đích này là dấu ấn của điều mà luật vĩnh cửu đòi hỏi nơi bản tính đặc thù đó. Có thể suy luận cách hợp lý rằng luật này sẽ khác với từng bản tính, tùy vào cùng đích mà luật vĩnh cửu định hướng nó. Ví dụ, con người được hạnh phúc thần linh làm cùng đích của mình, trong khi các loài động vật và sự sống thực vật thì không. Và như vậy, các khuynh hướng của mỗi loài sẽ thay đổi khác nhau. Khi tuân hành luật này, vốn “được viết lên bản tính của mình,”[154] chúng ta tuân hành theo luật bản tính của chúng ta – luật tự nhiên của chúng ta. Vì luật tự nhiên thực sự giống luật vĩnh cửu khi nó gắn liền với chúng ta như loài người, khi đó đích thực là khi tuân hành luật đó, chúng ta dự phần vào luật vĩnh cửu. Đây là lý do tại sao nói rằng luật tự nhiên được phát xuất và không bao giờ mâu thuẫn với luật vĩnh cửu.[155]

  1. Nhân luật

Vậy thì, nếu có một luật tự nhiên được viết trong tâm hồn con người, tại sao chúng ta không tìm thấy những luật lệ và thói quen tương tự nhau trong mỗi xã hội? Nếu tất cả mọi người sở hữu cùng một bản tính và vì thế cùng một luật tự nhiên, thì tại sao mỗi xã hội lại có những luật lệ khác nhau? Lời giải thích cho điều này hệ tại loại luật thứ ba được gọi là nhân luật. Sự khác biệt giữa luật tự nhiên và nhân luật ở chỗ: luật tự nhiên thì cung cấp những giới luật chung, giống nhau ở mọi nơi; trong khi nhân luật biểu trưng cho những áp dụng đặc thù của những giới luật này. Vì mỗi quốc gia và thời kỳ lịch sử không giống nhau và vì thế có những nhu cầu khác nhau, những áp dụng các giới luật của mỗi quốc gia sẽ khác nhau cách đáng kinh ngạc, thậm chí dẫu cho tự các giới luật này vẫn giống nhau. Đây là một sự đa dạng có giá trị chừng nào chúng đi theo luật tự nhiên và, qua luật tự nhiên, chúng đi theo luật vĩnh cửu. Chính vì cách cơ bản phát xuất từ luật vĩnh cửu mà bất kỳ hình thức luật cấp thấp hơn có giá trị pháp lý của nó:

“Luật nhân loại mang đặc tính của luật bao lâu nó phù hợp với trí năng ngay thẳng; và như thế nó rõ ràng phát xuất từ luật vĩnh cửu. Vì nếu nó lệch khỏi trí năng ngay thẳng, thì gọi là luật bất công, nó không còn yếu tính của luật, nhưng nó là bạo lực.”[156]
  1. Các mệnh lệnh của luật tự nhiên

Để hiểu tại sao nhân luật thì đa dạng trong khi luật tự nhiên lại như nhau ở mọi nơi, chúng ta phải nhớ rằng, cũng giống như Giáo Hội ban hành những nguyên tắc hơn là những giải pháp chuyên môn thế nào, thì luật tự nhiên cũng ban hành các giới luật hơn là các ứng dụng thế ấy. Và giới luật đầu tiên của luật tự nhiên đơn giản là thế này: phải tìm kiếm sự thiện, và tránh sự dữ.[157]

Những mệnh lệnh xa hơn được rút ra từ bản tính con người: con người là một hữu thể, con người là một hữu thể sống động, và con người là một hữu thể có lý trí. Tương ứng với ba cơ sở này về bản tính con người là ba mệnh lệnh tự nhiên: trước tiên, con người phải bảo tồn hiện hữu của mình mà chúng ta gọi là bổn phận thuộc “bản năng sinh tồn;” hơn nữa, con người phải sinh sản, nuôi dưỡng con cái, v.v.; và cuối cùng, điểm đặc trưng đối với con người là hữu thể có lý trí, con người phải chủ động tìm kiếm điều thiện hảo. Chính vì chức năng cuối cùng này mà con người được coi là “phải chịu trách nhiệm” cho các quyết định của mình. Các loài vật, vốn không có lý trí và vì thế không thể suy tư tìm kiếm điều phù hợp với luật tự nhiên, tuân theo tự nhiên một cách máy móc và không có sự đồng ý một cách có ý thức. Chỉ con người mới có thể dự phần cách ý thức vào, hay nổi lên chống lại, luật tự nhiên.

Nội dung trang này
<1 ... 67 8 910 ... 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!