Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

Từ những quan sát này, chúng ta có thể bắt đầu nhìn thấy tại sao nhân luật lại đa dạng. Mặc dù những mệnh lệnh là tương tự nhau khắp nơi, chúng ta nên hy vọng rằng, tùy phụ thuộc vào thời gian và nơi chốn, con người sẽ tìm thấy những công cụ khác nhau để hoàn thiện các luật này. Hơn nữa, vì một số người sẽ tận dụng những khả năng lý luận của mình một cách tốt hơn, nên những nhân luật riêng biệt sẽ tương hợp nhiều hơn hay ít hơn với luật tự nhiên. Tất cả chúng sẽ không giống nhau, mặc dù tất cả chúng đều có thể được coi như cố gắng đạt tới cùng một công lý.

  1. Không phải mọi sự trong tự nhiên đều là tự nhiên

Một sự lẫn lộn khác cần được điều chỉnh. Ta cùng nhau xem xét câu phát biểu sau đây: “Bất cứ cái gì hiện hữu, thì đều được tìm thấy trong tự nhiên, và vì thế nó là tự nhiên.” Lối suy nghĩ này – vốn được gọi là “chủ nghĩa tự nhiên” – dẫn đến việc loại trừ tất cả những gì là luân lý, vì nó loại trừ khả thể của bất kỳ những gì không tự nhiên. Nhưng chúng ta phải nhắc lại rằng Giáo Hội không nói về “tự nhiên” đơn giản theo kiểu “tất cả những gì hiện hữu.” Dĩ nhiên Giáo Hội thừa nhận toàn thể tạo thành là “tự nhiên,” nhưng Giáo Hội xem toàn thể tạo thành ấy là một sự đa dạng khổng lồ và trong bối cảnh của luật tự nhiên, cần xét đến cứu cánh đặc thù mà hữu thể có khuynh hướng hướng về đó. Hiểu như vậy, nếu một hành động hay một cách cư xử tương hợp với cứu cánh tương ứng của nó (hay “sự hoàn thiện” của nó),[158] thì lúc đó, nó là tự nhiên. Vì lẽ đó, chúng ta có thể dễ dàng hình dung những hành vi vốn không hướng đến cùng đích tương ứng của tự nhiên đang bàn. Ví dụ, chức năng tình dục và sự thỏa mãn vốn được gắn với chức năng đó chính là tự nhiên trong phạm vi chúng tương hợp với cùng đích tự nhiên rõ ràng của chúng; chúng sẽ không còn tự nhiên nếu chúng không tương hợp với cùng đích tự nhiên rõ ràng của chúng. Kẻ nào tìm kiếm sự thỏa mãn một mình thì phá hỏng cả mục đích của chức năng tình dục lẫn sự thỏa mãn gắn liền với nó. Một sự xem xét tương tự có thể được tìm thấy trong phạm vi tri thức: mặc dù việc suy tư của con người được thể hiện bởi “khả năng lý luận,” nhưng không có ai có thể ngây thơ tuyên bố rằng mọi quyết định phát xuất từ khả năng này đều vì thế mà hợp lý. Một quyết định có hợp lý hay không thì không hệ tại vào việc nó phát xuất từ khả năng lý luận hay không, nhưng tùy thuộc vào việc nó có tương hợp với những định luật phù hợp với phạm vi đó không. Khả năng lý luận có thể sinh ra những kết luận phi lý. Giờ đây trở về với phạm vi luật tự nhiên, chúng ta không được phép quên đi sự phân biệt những gì bình thường (“tự nhiên”) với những gì không bình thường (“không tự nhiên”), đơn giản vì chúng đều xuất hiện “trong tự nhiên.”

  1. Lương tâm

GHXH đã được mô tả như là điểm giao nhau giữa lương tâm Công Giáo với thế giới thực.[159] Đây là một cách nói thú vị: nó chỉ ra sự thật rằng lương tâm không được xác định hoàn toàn bằng những điều kiện thuộc thế gian, nhưng đồng thời, nó buộc phải được nối kết với những điều kiện này một cách nào đó. Sự nối kết này, vốn hình thành nên lương tâm liên quan tới những điều kiện của đời sống thực, được trình bày bởi GHXH. Vì thế, chúng ta có lý do để dừng lại suy tư về lương tâm, mặc dù thoạt tiên, điều này xem ra không cần thiết.

  1. “Lương tâm thành thực” là gì?

Giáo huấn của Giáo hội Công giáo vẫn thường dạy rằng mỗi người đều bị buộc phải tuân theo phán đoán của lương tâm mình, và rằng, không tuân theo hướng dẫn này là tự kết án mình. Tuy nhiên, lập trường như vậy dễ bị hiểu sai, vì nó phải được hiểu trong toàn bộ nội dung chân lý của Giáo Hội về lương tâm, sự hình thành cũng như việc vận hành của nó.

Mức độ mà qua đó giáo huấn Giáo Hội thực sự bị hiểu sai hiển nhiên bởi cụm từ phổ biến sau: “lương tâm thành thực.” Khi một người nói cụm từ này, họ luôn muốn ngụ ý rằng, họ đã hành động theo lương tâm của họ khi đưa ra quyết định. Rủi thay, khi hiểu mọi sự theo cách này là chúng ta đã vô tình bỏ qua một bước quan trọng. Vì một người hành động theo lương tâm của mình không có nghĩa là lương tâm của người đó đã “tốt lành.” Điều đó đơn giản chỉ là họ đã tuân theo lương tâm. Có thể có một lương tâm “xấu” và tuân theo .

Điều này có nghĩa là chúng ta có hai điều phải xem xét khi nói đến với lương tâm. Thứ nhất, chúng ta phải bảo đảm rằng lương tâm của chúng ta lành mạnh. Tức là phải nói rằng chúng ta phải thật quan tâm đến việc hình thành một “lương tâm tốt lành.” Điều này không phải tự nhiên mà có. Thứ hai, và chỉ khi chúng ta đã hoàn thành xong nhiệm vụ thứ nhất, chúng ta phải đi theo phán quyết của lương tâm. Đây là điểm rất quan trọng phải nhấn mạnh, vì nó có thể được hiểu rằng, một tình huống có thể xảy ra mà trong đó quá dễ dàng tin cậy vào lương tâm của một người là điều thật ngu xuẩn. Một người dùng ma túy hay quen với sách báo khiêu dâm có thể dính líu với những hành vi này “trong một lương tâm tốt lành,” nghĩa là lương tâm của anh ta không bị bất an vì tham gia vào những hoạt động đó. Đây chính là trường hợp của lương tâm méo mó, và với một người như vậy, thì điều tốt hơn là hãy tin tưởng vào một người hàng xóm lành mạnh. Rất thường, và không nghi ngờ gì nữa, dưới ảnh hưởng của một sự ngây thơ nhân bản nào đó vốn giả định rằng lương tâm thì luôn luôn tốt lành, chúng ta xao lãng bước đầu tiên này – nhiệm vụ “huấn luyện” lương tâm – và chỉ nghĩ về bước thứ hai. Và rồi chúng ta tuân theo một lương tâm bệnh hoạn, và trong những trường hợp như thế, nơi mà sự lệch lạc bắt nguồn từ tình trạng lỏng lẻo hay cẩu thả, thì chúng ta phải chịu trách nhiệm vì sự sai lầm này.

  1. Lương tâm thì không thể không sai lầm

Sai lầm được nói đến trên đây, vốn khiến chúng ta đi theo những mệnh lệnh của lương tâm mình mà không tìm cách để đảm bảo rằng lương tâm của chúng ta đã được huấn luyện cách đúng đắn, là một cách tạo ra tai họa. Nó coi ánh sáng nội tâm như là không thể sai lầm; ánh sáng này tuy được sắp đặt để hướng về điều thiện, nhưng không đương nhiên gắn bó với nó, và vốn có thể trở nên hao mòn, tối tăm, hay méo mó đi do sự lệch lạc của con người.

  1. Vấn đề ‘lương tâm trên hết’

Với câu nói “lương tâm trên hết,” chúng ta đối diện với cùng vấn đề mà chúng ta đã thực hiện khi bàn về đức khôn ngoan, và chúng ta đã nghĩ rằng thật khôn ngoan khi lặp lại vì cùng lý do: vì nó là một sai lầm quá phổ biến đến nỗi nó hoàn toàn trở thành một khẩu hiệu chung.

Chúng ta phải xem xét một trường hợp tưởng tượng, vốn không xa với kinh nghiệm thực tế. Chúng ta hãy nghĩ đến việc lương tâm của một người đẩy anh ta đến một định hướng nào đó về vấn đề phá thai. Nếu đây là một trường hợp lương thiện, thì liệu anh ta có lý do để chống lại giáo huấn mà Giáo Hội thường nhắc đi nhắc lại về vấn đề này, bằng cách nại đến nguyên tắc: “lương tâm trên hết” hay không? Tùy vào lương tâm của anh ta đã được huấn luyện tốt không? Anh ta có chịu khó tự huấn luyện mình và lắng nghe những luận cứ vốn là quan điểm của Giáo Hội không? Nếu không, có thể là anh ta đã không thi hành theo lương tâm của mình chút nào, nhưng chỉ đơn thuần là làm theo ý thích của mình. Hoặc, nói theo cách khác: lương tâm của một người không bao giờ được huấn luyện cách trống rỗng, và vì thế, do sự cẩu thả cá nhân, rất có thể nó đã bị “sai hướng,” hoặc được huấn luyện sai lầm, hoặc được huấn luyện theo những ước muốn độc đoán của mình.

Điểm quan trọng không phải là làm mất hiệu lực của khái niệm “lương tâm trên hết,” vốn là một trong những giáo huấn cao quý nhất của Truyền Thống Công Giáo. Nhưng chúng ta luôn phải nhớ rằng lời tuyên bố “lương tâm trên hết,” giả định một sự nỗ lực thường xuyên để huấn luyện lương tâm, cũng vậy, câu nói “phán đoán khôn ngoan” giả định sự phát triển thường xuyên của đức khôn ngoan. Ở cả hai trường hợp này, việc tuyên bố sự đúng đắn đòi hỏi rất nhiều thực hành và kỷ luật. Không có kỷ luật này, cả “lương tâm trên hết” lẫn “phán đoán khôn ngoan” đều đơn giản là không thể, và tuyên bố chúng thì chẳng gì khác hơn chính là chủ nghĩa thoát ly thực tế.

  1. Hành vi và ý hướng
  2. Luân lý chủ quan

Các vấn đề về lương tâm mà chúng ta vừa đề cập trên đây, và luân lý không mạch lạc phát xuất từ một sự hiểu nhầm về bản chất của nó, có thể dẫn tới cái được gọi là “luân lý chủ quan.” Ở trên đây, chúng ta đã đề cập về mối nguy hiểm của việc xem thế giới vật lý này chỉ là thứ cấp hay “ít thực tế,” đồng thời nghĩ tưởng rằng “đời sống nội tâm” mới “thật sự là quan trọng,” cách cụ thể khi dùng nó để xác định điều đúng và điều sai. Khuynh hướng nghiêng về chủ thể này ít có thể dùng để kiểm nghiệm nó trong não trạng hiện đại của sự trừu xuất, và nó chắc chắn dẫn đến quan niệm nguy hiểm rằng, vì một người có ý hướng tốt lành trong hành động, thì khi đó những hành động này tự động được trao cho tính luân lý, hay trong trường hợp xấu nhất là tiền luân lý. Dù những hành vi này đã bị Giáo Hội kết án là “sự dữ tự bản chất,” thế nhưng vài người lại tuyên bố rằng, bao lâu còn có một “ý ngay lành,” thì khi đó một người không thể bị coi là mắc lỗi luân lý. Cách suy nghĩ như vậy thoạt nhìn dường như có lý thế nhưng nó rốt cuộc là sự phủ nhận tất cả quy tắc có tính khách thể mà nhờ đó các hành vi có thể được phán xét. Nó trở nên hoàn toàn mang tính chủ thể và nền luân lý chủ thể này kết thúc bằng việc cắt đứt sự liên kết giữa linh hồn và thể xác, lương tâm và thực tại đặc thù.

Để chữa trị vấn đề này, Giáo Hội liên tiếp khẳng định rằng “Trên tất cả và tự nền tảng, tính chất luân lý của hành vi nhân linh tùy thuộc vào đối tượng đã được ý chí chọn lựa có suy tính,[160] nghĩa là đối tượng (hành vi cụ thể), chứ không phải chủ thể (người thực hiện hành vi), chính là tiêu chuẩn để phán xét sự đúng đắn của hành vi. Đối tượng không phải là cứu cánh xa mà người ta có trong tâm trí – “động lực” của chúng – nhưng là chính hành vi cụ thể. Nói cách khác, mục đích không thể biện minh cho phương tiện. Vì lẽ đó, tính tốt lành của một hành vi, xét về mặt khách thể, có thể xác định mà không cần quy chiếu đến ý hướng của một người.

  1. Trong cái xấu chọn cái ít xấu hơn

Mối nguy hiểm lớn lao của lối suy nghĩ này đã bị chính thánh Phaolô lên án từ lâu (Rm 3,8), và từng được Đức Phaolô IV đã tóm kết như sau:

“Trong thực tế, phải công nhận rằng: thỉnh thoảng người ta có quyền chấp nhận một tai hại nhỏ để tránh một tai hại lớn, hoặc để thực hiện một việc tốt đẹp, nhưng không bao giờ ta được phép làm một việc ác để đạt tới một sự thiện (cf. Rm 3,8), nghĩa là được phép tùy ý làm một việc tự bản tính nó vốn xấu hoặc một việc bất xứng với nhân cách, dầu là với mục đích bảo vệ hay tạo ra điều tốt cho cá nhân, gia đình hay xã hội.”[161]

Nguyên tắc này thì đơn giản: không bao giờ ta được phép làm một việc ác để đạt tới một sự thiện. “Sự thiện lớn hơn” – một lý lẽ biện hộ chung cho các hành vi như phá thai, tra tấn…  không bao giờ là một lý do bào chữa cho sự lựa chọn những hành vi xấu tự bản chất, vì hành vi trong từng trường hợp – “đối tượng” được ý chí chọn lựa cách lý tính – tự chính nó là điều xấu. Vì ý chí con người vừa cao quý vừa tự do, nên không thể đơn giản thay đổi một hành vi xấu thành hành vi tốt bởi việc có ý hướng ngay lành, như thể một ý hướng tốt lành có thể biến dấm thành rượu vang. Mỗi hành vi phải tương hợp với sự thiện.

  1. Sự vận hành của đức khôn ngoan

Cũng giống như trong câu nói “lương tâm trên hết” dễ dàng bị chính trị hóa thành một câu khẩu hiệu vô nghĩa, khái niệm “phán đoán khôn ngoan” cũng thường bị dùng bừa bãi theo một cách thức biến nó trở thành không gì khác hơn một lý lẽ được dùng để làm cho bất kỳ loại hành vi hay ý thức hệ nào trở nên đúng đắn miễn là người đó thích là được. Nhưng khôn ngoan, giống như lương tâm, cần có một tiến trình huấn luyện, và cá nhân nào lờ đi bước đầu sơ bộ này thì không được biện hộ trong việc bảo vệ những quyết định của mình bằng cách nói rằng anh ta đang hành động theo khôn ngoan. Để hiểu nghĩa của cụm từ “đào tạo sơ khởi,” một lần nữa chúng ta có thể căn cứ vào Thánh Tôma, người đã xem nhân đức khôn ngoan gồm có tám phần: ký ức, thông hiểu, dễ dạy, sắc sảo, lý luận, tiên liệu, thận trọng, và sự chú ý đề phòng.[162] Tuy nhiên, sau khi định hình sách Tóm lược và để cho sáng tỏ, ở đây chúng ta sẽ mô tả năm phần nổi bật nhất. Nếu cảm thấy quan tâm, độc giả có thể đến những mục có liên quan trong quyển Tổng Luận Thần Học để biết thêm chi tiết về tất cả tám phần này.[163]

  1. Ký ức

Ký ức là bước đầu tiên trong ba “chuẩn bị nhận thức” cho phép phát triển những điều kiện cần thiết để vận hành đức khôn ngoan cách thực thụ, và không có nó việc vận hành của phán đoán khôn ngoan chỉ là một ảo tưởng. Khả năng ký ức lành mạnh có nhiệm vụ hỗ trợ trí khôn vận hành cách hiệu quả vì nó mang đến cho người phát triển nó khả năng nhớ lại và suy tư về những kinh nghiệm đã qua như một cách khách quan và không bị bóp méo.[164]

  1. Dễ dạy

Sự chuẩn bị nhận thức thứ hai của con người chính là dễ dạy, vốn cho phép con người học hỏi từ người khác và thừa hưởng lợi ích từ kinh nghiệm của họ dựa trên nền tảng là tình yêu đích thực dành cho chân lý.[165] Vì thế, sự chuẩn bị này được gắn kết với đức khiêm tốn, và là một cách thức diễn đạt của nó. Đức Kitô dạy các tông đồ rằng: “Ai nghe anh em là nghe Thầy.”[166] Nếu không phát triển cẩn thận cảm thức dễ dạy, chúng ta rất có nguy cơ bị điếc đặc với huấn dụ của các tông đồ, vì muốn chiều theo sở thích thay vì những quan điểm và thiên kiến riêng của chúng ta.[167]

  1. Sắc sảo

Sắc sảo là bước thứ ba trong các chuẩn bị nhận thức. Nó liên quan đến khả năng đối diện với cái bất chợt cách khách quan để biến mỗi tình huống trở thành dịp phát sinh điều tốt lành, vượt qua cơn cám dỗ vô độ, bất công và nhút nhát.[168]

  1. Tiên liệu

Ba bước vừa rồi dọn đường cho đức khôn ngoan được vận hành cách hiệu quả trong mỗi thời điểm quyết định cụ thể. Chính trong lúc quyết định – được gọi là khôn ngoan khi ra lệnh – có hai điều chúng ta phải xem xét, vốn can hệ đến tương lai và quá khứ trong tương quan với hiện tại. Tiên liệu là điều đầu tiên và khả năng cân nhắc hiệu quả của một hành vi cụ thể để đạt tới một cùng đích luân lý nào đó.[169]

  1. Lo xa

Điều thứ hai, liên quan đến quá khứ, chúng ta nói đến lo xa, là khả năng cân nhắc các bối cảnh đã góp phần tạo nên tình huống mà trong đó một hành động sẽ được thực hiện.[170]

  1. Tham dự tích cực và vâng phục

Sau khi đã xem xét năm phần của đức khôn ngoan, giờ đây chúng ta phải xem xét đức khôn ngoan trong bối cảnh xã hội. Ở đây, sự vận hành của đức khôn ngoan xuất hiện ở hai dạng – khôn ngoan chủ độngkhôn ngoan thụ động. Thứ nhất, khôn ngoan chủ động, là một cách diễn tả cho trách nhiệm của chúng ta trong việc tham dự tích cực vào sắp xếp trật tự của xã hội để hướng về sự thiện; và thứ hai, khôn ngoan thụ động, bao gồm vâng phục và quy phục của mỗi người chúng ta trước thẩm quyền xã hội, bao lâu sự quy phục này không làm giảm giá trị phẩm giá con người.[171] Chúng ta cũng không nên ngạc nhiên rằng, trong thời đại của cá nhân chủ nghĩa và duy lý trí, hình thức thứ hai – vâng phục – thường bị lờ đi hay bác bỏ hoàn toàn, nhưng cả hai loại khôn ngoan này đều cần thiết để đạt đến được một bức tranh hoàn chỉnh về chủ đề của chúng ta. Một người chỉ biết hành động nhưng không biết lắng nghe, học hỏi và vâng phục, thì chỉ là một kẻ khôn ngoan nửa vời.

  1. Vấn đề với ‘phán đoán khôn ngoan’

Giờ đây, chúng ta quay trở lại với những gì đã nói ở đầu phần này. Bây giờ, chúng ta phải thấy rõ rằng, cần đến nhiều yếu tố khác để vận hành trí khôn ngoan chứ không thể đơn giản nói rằng “tôi đã xem xét vấn đề và đang làm những gì mà tôi nghĩ là tốt nhất.” Chúng ta thường thấy có nhiều tín hữu chân thành lấy lập trường này để xem nhẹ hay phản đối các giáo huấn của Đức Giáo hoàng, dựa vào cái được gọi là “phán đoán khôn ngoan,” họ tin rằng làm như thế sẽ tránh được mọi hình thức sai phạm không tuân theo Huấn quyền. Thế nhưng, nếu những người như thế không biết tu dưỡng và rèn luyện nhân đức khôn ngoan cách cẩn thận, thì phán đoán khôn ngoan sẽ chỉ là một chuyện không thể có. Chẳng những không phải là một “đặc ân” mà người ta có được khi sinh ra hay có thể nại tới bất kỳ lúc nào, phán đoán khôn ngoan đúng ra là một gánh nặng đặt ra trước mắt. Rất ít người có đủ phẩm chất để đảm nhiệm nó.

<1 ... 78 9 1011 ... 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!