Học thuyết Năm Đại Xá đáp ứng cho việc giữ vai trò nhắc nhở trong những vấn đề tinh thần và việc đưa ra một sự tái lập trong những vấn đề vật chất. Chúng ta cần một người nhắc nhở bởi vì chúng ta là con người, và chúng ta quên rằng sự công bằng của chúng ta không phải là chân lý tối hậu.
3. Những lưu ý về nguồn tài liệu được tham khảo
Chúng tôi đã muốn dừng lại khá lâu để nói đến Năm Đại Xá, bởi vì không chỉ vì nó phục vụ như một sự minh họa hữu ích của GHXH, nhưng đồng thời, nó mạc khải tính vượt thời gian của những nguyên tắc của Giáo hội Công giáo. Sau khi đã thiết lập trên nền tảng này, chúng tôi sẽ tiến hành việc sử dụng rộng những tài liệu thời cận đại. Thêm vào việc sử dụng Kinh Thánh, những tác phẩm của các Giáo Phụ, và nhiều những văn kiện chính thức được công bố bởi chính Giáo Hội, chúng ta sẽ thường xuyên sử dụng những tài liệu của Thánh Tiến sĩ Thiên Thần, Thánh Tôma Aquinô. Chúng ta sẽ cảm thấy yên tâm khi tham khảo những tài liệu của một tên tuổi lớn như Aquinô chỉ vì, trong cách làm như vậy, là chúng ta đang theo quan điểm của chính các Đức Giáo hoàng. Thánh Giáo hoàng Piô X đã không bày tỏ một ý kiến cá nhân nào khi ngài nói:
“Trước hết, liên quan đến việc nghiên cứu, Chúng tôi mong muốn và quy định rằng triết học kinh viện được chọn làm nền tảng cho khoa học thánh… Và khi nói đến triết học kinh viện, chúng tôi muốn nói đến gia sản mà vị Thánh Tiến sĩ Thiên Thần đã để lại cho chúng ta… Hơn nữa, các giáo sư hãy nhớ rằng họ không thể nào gạt Thánh Tôma Aquinô sang một bên mà không gặp phải những nguy hại nghiêm trọng, đặc biệt trong những vấn đề siêu hình.”[18]
Chúng tôi cũng cố gắng giới hạn việc nghiên cứu riêng biệt của mình trong những nguồn tài liệu có thể kiếm dễ dàng trên internet. Mỗi nguồn tài liệu mà chúng tôi sử dụng ở đây, từ sách Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, đến sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, đến Tổng luận Thần học của Thánh Tôma Aquinô, bất cứ ai cũng có thể tìm thấy chúng trên mạng trực tuyến nhờ kết nối internet. Tôi hi vọng rằng phần lớn độc giả sẽ tận dụng sự việc này để kiểm lại và nghiên cứu sâu rộng hơn bất cứ nguồn tư liệu nào mà họ cảm thấy ý nghĩa hoặc thích thú.
Nhiều thông điệp khác nhau, sách Tóm lược, sách Giáo lý, và phần lớn các tài liệu khác được dùng trích dẫn dưới đây chúng ta có thể tìm thấy trên trang mạng của Vatican: http://www.vatican.va/archive/index.htm
Tổng luận Thần học của Thánh Tôma Aquinô, Từ điển Công giáo và nhiều tác phẩm quan trọng khác chúng ta có thể tìm thấy ở New Advent: www.newadvent.org
Những tác phẩm còn lại của Thánh Aquinô chúng ta có thể tìm thấy ở Dominican House of Studies, www.dhspriory/thomas
Cuối cùng, độc giả nên nhận thấy rằng chúng tôi không giới hạn vào những tài liệu thường được gắn liền với GHXH – trong thực tế, nó là lãnh vực chuyên ngành cụ thể. Lý do là vì những tài liệu được gắn liền với GHXH, theo cách tiếp cận và ngôn ngữ, giả thiết đã quen thuộc với đạo lý. Tuy nhiên, trong thời đại của chúng ta, sự quen thuộc ấy không phải là chuyện đương nhiên.
Ví dụ, tất cả những tài liệu thuộc GHXH phải bao hàm sự thừa nhận của nền triết học luân lý Công giáo, nhưng thật đáng buồn là nó thường bị thiếu hụt. Thậm chí các thành viên giáo dân, những người vốn mau mắn tiếp cận với các giáo huấn, và tin tưởng bản thân chúng hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Huấn Quyền, nhận thấy rằng trong thực tế, họ không bao giờ nghe được một vài nguyên tắc nào của Giáo Hội. Và như thế, khi chúng tôi đi vào những phần nghiên cứu những đề tài liên quan đến triết học luân lý Công giáo, chúng tôi sẽ tạm dừng việc bàn luận về GHXH để nghiên cứu những tài liệu từ những lãnh vực khác, như là thông điệp luân lý của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Veritatis Splendor. Không phải vì Thông điệp Veritatis Splendor là tài liệu duy nhất bàn đến luân lý, nhưng vì nó là tài liệu đầu tiên tổng hợp những giáo huấn luân lý của Giáo Hội nhằm mưu ích cho tất cả mọi thành phần và được phổ biến cho mọi người theo một hình thức ngắn gọn. Và chính tài liệu này đã nói rõ:
“Kỳ thực, đây là lần đầu tiên mà Huấn Quyền Giáo Hội đưa ra một bản văn diễn giải khá sâu rộng về các yếu tố cơ bản của học thuyết luân lý, và cũng là lần đầu tiên mà Huấn Quyền trình bày những lý lẽ của công việc phân định mục vụ là công việc phải nói rất cần thiết trong những tình huống thực tiễn và những điều kiện văn hóa phức tạp và lắm gay cấn như hiện nay.”[19]
Trong suốt tập sách này, sẽ còn nhiều “mở ngoặc” tương tự như vậy.
PHẦN I. VAI TRÒ CỦA GIÁO HỘI
1. Lời minh giải cho học thuyết
Tại một thời điểm nào đó trong quá khứ, mọi người cứ cho là Giáo Hội cũng có nhiều điều để nói về những hoạt động kinh tế của thế tục, vì công việc của Giáo Hội là hướng dẫn và huấn luyện những khía cạnh thâm sâu về sự hiện hữu của con người. Đáng tiếc thay, trường hợp đó không còn nữa. Con người ngày nay được đào tạo để suy tư về những chiều kích đa dạng trong cuộc sống: một bên là “cá nhân” và một bên là “tinh thần,” một bên là “giải trí” và một bên là “nghề nghiệp,” một bên là “công” và một bên là “tư.” Kết quả khi đó là Giáo Hội và Nhà nước, và hơn nữa Giáo Hội và “thị trường,” bị chia cách và khẳng định họ không có gì để nói về nhau. Vì lẽ đó, chúng ta nhận thấy mình bị giản lược vào một nơi mà từ đó chúng ta phải chứng minh sự tồn tại minh nhiên của những học thuyết mà chúng ta sắp khám phá. Trước khi chúng tôi muốn nói những điều Giáo Hội dạy về đời sống kinh tế và chính trị, chúng tôi phải thuyết phục độc giả là Giáo Hội có quyền đưa ra bất kỳ quan điểm nào về bất cứ thứ gì trong những vấn đề này. May mắn thay, nhiệm vụ này không khó khăn.
Nếu được hỏi tại sao Giáo Hội lại bận tâm đến “những chuyện thế tục” cũng như những vấn đề dường như đã bị tách biệt ra khỏi tôn giáo, chẳng hạn như học thuyết kinh tế, chúng ta có thể đơn giản đối đáp lại rằng, hai lĩnh vực này thực sự không xa cách nhau như những nhà duy vật và những nhà kỹ tri muốn chúng ta tin như thế. Tuy nhiên, vẫn có một lời giải thích toàn diện hơn giúp chúng ta hiểu không chỉ tại sao Giáo Hội có lý khi soạn thảo học thuyết này, cũng như tại sao, khi đã soạn thảo, học thuyết này đáng để mọi người học hỏi.
Chúng ta có thể tìm thấy lời biện luận như thế bằng cách dựa vào lời phát biểu của Thánh Tôma Aquinô, rằng ân sủng giả thiết thiên nhiên.[20]
Hay nói một cách khác, không được phép tách rời chiều kích tinh thần của con người (nơi đó hạnh phúc đích thực của con người phải được tìm thấy và là mối bận tâm lớn nhất của Giáo Hội) ra khỏi thế giới “thông thường,” ở đó chúng ta sống cuộc đời thường nhật của mình. Truyền thống Kitô giáo không chấp nhận một sự phân đôi như thế. Truyền thống Kitô giáo dạy rằng con người không phải là thân xác vật chất mà cũng không là linh hồn thiêng liêng, nhưng đúng hơn là một kết hợp của xác và hồn. Vì thế, ân sủng, hay đời sống tinh thần, giả thiết và dựa vào nền tảng của thiên nhiên. Và mặc dù, điều đúng đắn là nền tảng thì thấp hơn phần ở trên (ân sủng) theo thứ bậc, nó vẫn là nền tảng, và những nền tảng này là một cái gì đó cần thiết đối với các cấu trúc, là cái dựa vào những nền tảng đó. Khi hiểu như vậy, người nêu lên ý kiến rằng các nhà lãnh đạo tinh thần đừng nên bận tâm đến những vấn đề kinh tế và chính trị, và hãy lo chuyện đạo nghĩa mà thôi, đã phạm phải một trong hai sai lầm lớn sau.
Đầu tiên, điều có thể xảy ra là người ta cho rằng trật tự cao hơn của thực tại (đời sống tinh thần) không có gì liên quan với trật tự thấp hơn của thực tại (thế giới vật chất). Từ một quan điểm như thế, thật là hợp lý để quan niệm rằng “phạm vi thẩm quyền” của Giáo Hội chỉ giới hạn vào lãnh vực tôn giáo, và vì thế, công việc của Giáo Hội không có gì liên quan đến cuộc sống thế tục. Đây chắc chắn là một sai lầm rất phổ biến. Nó liên kết chặt chẽ với khuynh hướng hiện đại như đã đề cập ở trên, để cố gắng và tổ chức (“hệ thống hóa”) cuộc sống vào những phạm trù được phân chia một cách gọn gàng. Đáng tiếc thay, để đưa ra một quan niệm sống như thế, và bởi vì chính những thực tại vật chất này đè nặng ý thức của chúng ta một cách triền miên, sớm hay muộn những mối bận tâm vật chất bắt đầu đòi hỏi nhiều hơn nữa, nếu không phải tất cả, thì cũng một phần sự chú ý của chúng ta. Khi bước vào con đường này, người ta bắt đầu bằng việc phân chia trật tự của thực tại thành những thế giới khác nhau, và người ấy kết thúc bằng việc đánh mất hoàn toàn một trong những thế giới đó như nó mất dần trong ý thức của mình. Quan điểm này của người ấy trở thành một chủ nghĩa duy vật ngầm, và đôi lúc cũng trở thành chủ nghĩa duy vật tỏ hiện.
Nếu chúng ta tránh sai lầm đầu tiên và giữ lại được cả hai trật tự này của thực tại trong sự suy xét của mình, thì chúng ta cũng phải ngăn ngừa một sai lầm thứ hai, nó đến từ một sự hiểu lầm về mối quan hệ thứ bậc giữa những trật tự tinh thần và vật chất. Trong trường hợp này, mặc dù trật tự tinh thần không bị mất đi, nhưng nó vẫn vô vọng và bị gạt ra ngoài “những vấn đề thế tục” vì việc tưởng tượng hai trật tự này như sự tồn tại “riêng biệt nhưng đồng đẳng,” mà trong thực tế chúng chỉ được hiểu một cách thứ bậc.
Để hiểu bản chất của sai lầm thứ hai này, chúng ta cần xem xét hai người lạ mặt mà chúng ta gặp trên đường. Họ khác biệt nhau và không đồng đẳng – và vì lý do này, thật không thích hợp cho người này xen vào công việc của người kia. Đây là một quan điểm thích hợp cho hai người trên đường, nhưng không thích hợp cho mối quan hệ giữa Giáo Hội và Nhà nước, bởi vì mối quan hệ này có tính thứ bậc chứ không bình đẳng. Mối quan hệ này có thể được minh họa thành hai nhân vị, tựa như một người cha và một người con. Người cha có thể và phải can thiệp vào cuộc sống của người con. Và từ quan điểm của người con, hay điều ngược lại thì vẫn đúng: người con không thể truyền lệnh cho người cha, nhưng thay vào đó, phải nghe những gì người cha truyền khiến, bởi vì theo bản chất, người con ở vị trí tùng phục.
Đó là bản chất của tất cả các mối quan hệ thứ bậc. Mặc dù cấp dưới không thể thấu hiểu hoặc ảnh hưởng đến cấp trên, nhưng cấp trên luôn luôn có thể thấu hiểu và phải ảnh hưởng đến cấp dưới. Và như thế, mặc dù cấp dưới không thể vượt quá quyền hạn cấp trên, nhưng cấp trên ở vị trí hợp pháp để quản lý cấp dưới. Theo cách nói truyền thống này, đây là quan điểm thích hợp cho mối quan hệ giữa Giáo Hội và những nhà cầm quyền thuộc một trật tự hoàn toàn thế tục.
Chúng ta phải thận trọng ở đây. Mặc dù chúng ta nói rằng thẩm quyền của tinh thần là cấp trên và nó có thể ra lệnh cho cấp dưới, nhưng chúng ta cũng phải hiểu rõ rằng nó chỉ nói đến những vấn đề của cấp dưới có liên quan đến những nguyên tắc phổ quát, vì đây là lãnh vực chuyên môn của nó. Như chúng ta sẽ lưu ý dưới đây, nó không cung cấp “những giải pháp chuyên môn” liên quan đến những vấn đề kinh tế và chính trị, vì những giải pháp chuyên môn và “thực tiễn” là lĩnh vực riêng của những nhà cầm quyền chính trị. Chính đây là chỗ Giáo Hội nhìn nhận quyền tự trị của họ. Mối quan hệ thứ bậc này, là sự kết hợp cẩn thận giữa ước muốn thống nhất và sự tôn trọng quyền tự trị, được gọi là “Gelasian diarchy,” vốn được đặt theo tên một bức thư của Đức Gêlasiô I gửi Hoàng đế Anastasiô vào năm 494 sau CN, khi ấy Đức Giáo hoàng đã khuyên hoàng đế như sau:
“Thưa Hoàng đế uy nghi, có hai quyền hành ngự trị trên thế giới này: quyền linh thánh của các Giám mục và quyền của các vua. Quyền của các Giám mục có uy thế lớn hơn quyền của các vua, vì các Giám mục sẽ phải đưa ra lời giải trình về mọi người, kể cả các vua trước tòa Thiên Chúa.”[21]
Đức Lêô XIII đã khẳng định lại truyền thống này, khi ngài nói rằng: “Đấng Toàn Năng… đã giao phó cho loài người trách nhiệm coi sóc hai quyền hành: giáo quyền và thế quyền, một quyền được thiết lập để lo những việc thánh thiêng, còn quyền kia được thiết lập để lo những việc của con người và vạn vật,” nhưng ngài chắc chắn cũng lưu ý rằng, ở đây phải “tồn tại giữa hai quyền hành này một sự nối kết thứ bậc chắc chắn, mà có thể so sánh với sự hợp nhất của hồn và xác nơi con người.”[22] Không một ai biết rõ sự liên kết giữa xác và hồn mà lại muốn đề nghị rằng hồn không cần biết đến hoạt động và chức năng của thân xác.
Nhiều lời chỉ trích Giáo Hội hay có kiểu dai dẳng lặp đi lặp lại vài câu nói một khi Giáo hoàng đã phát biểu về các vấn đề kinh tế hay chính trị. Họ nói rằng Giáo Hội chỉ có quyền trên “các vấn đề đức tin và luân lý” mà thôi, ý của lời này là muốn phân tách các vấn đề xã hội – kinh tế không thuộc về hai lãnh vực ấy. Nhưng tiếc thay, đây không phải là cách hiểu truyền thống về đời sống xã hội, kinh tế và chính trị. Thực vậy, luân lý ảnh hưởng rộng khắp trên tất cả những lĩnh vực này. Công bằng là nền tảng của luân lý, và cách đặc biệt không thể phủ nhận điều này là, các vấn đề kinh tế luôn bị sàng lọc bởi các vấn đề về công bằng. Nếu không trả lời được các vấn nạn này, chúng sẽ gây ra một sự hỗn loạn. Đó là lý do tại sao Giáo luật khẳng định rằng:
“Giáo Hội phải loan báo các nguyên tắc luân lý trong mọi thời và mọi nơi, kể cả những nguyên tắc về trật tự xã hội, cũng như phải phán đoán về tất cả các thực tại nhân sinh, trong mức độ mà các quyền căn bản của con người hay việc cứu độ các linh hồn đòi hỏi.”[23]
Quay lại với nguyên tắc của chúng ta là ân sủng giả thiết thiên nhiên, chúng ta có thể nói rằng Giáo Hội quan tâm đến trần thế, không phải vì Giáo Hội muốn gây ảnh hưởng một cách cụ thể đến những hoạt động chuyên biệt thuộc về trần thế, nhưng vì con người cần một nền tảng vật chất dồi dào, ngõ hầu giúp đời sống tinh thần phát triển tối đa. Giáo Hội chỉ bận tâm về những vấn đề trần thế trong tầm mức chúng đe dọa những vấn đề tinh thần, nghĩa là mối bận tâm của Giáo Hội sẽ cần được khai triển trong những thời điểm rối ren và khủng hoảng kinh tế. Đặc biệt khi hoàn cảnh sống của con người trên trái đất bị kéo xuống một mức tối thiểu nào đó, Giáo Hội không thể và sẽ không tiếp tục im lặng. Chính trong hoàn cảnh cụ thể này đã làm nảy sinh, và khơi nguồn cho sự phát triển xa hơn nữa của GHXH:
“… nói cho đúng, tình trạng xã hội kinh tế ngày nay là trở lực kinh khủng nhất, khiến loài người phần đông không chu toàn được việc khẩn cấp hơn cả, là việc rỗi linh hồn.”[24]
Vô phúc thay những ai khẳng định rằng các hoàn cảnh kinh tế và chính trị không liên quan gì đến đời sống thiêng liêng. Rõ ràng có một điều hoàn toàn chính xác, đó là Giáo Hội luôn có những mối bận tâm muôn thuở là vì không muốn thờ ơ với những bận tâm trần thế của con người.[25]
Chúng ta đã nói rằng Giáo Hội hành động như người bảo vệ chân lý phổ quát, và không liên quan đến các giải pháp có tính kỹ thuật.[26] Giáo Hội hoạt động dựa trên những nguyên tắc mang tính vĩnh cửu. Mặc dù không bao giờ thay đổi, nhưng những nguyên tắc này cần đến những sự thích nghi mới, phụ thuộc vào thời gian và không gian nơi mà những nguyên tắc này được áp dụng. Điều này không phải vì chân lý cách nào đó mang tính “tương đối,” hay thay đổi, nhưng là vì con người và môi trường luôn biến thiên liên tục. Với tư cách là một chuyên gia am hiểu về con người,[27] Giáo Hội có bổn phận liên tục quan sát những biến thiên liên tục trong các hoàn cảnh xã hội, lượng giá xem những sự điều chỉnh này là tốt hay xấu, đồng thời đáp lại những điều chỉnh đó theo ngôn ngữ dễ hiểu với từng thế hệ mới.[28]
Giáo Hội được giao nhiệm vụ vừa bảo vệ những giáo huấn vĩnh cửu và không đổi của mình, vừa cung cấp những sự thích nghi, những sự giải thích, và những sự tái giải thích phù hợp khi cần thiết, cho mỗi giai đoạn lịch sử. Giáo Hội phải “trở nên tất cả cho mọi người,”[29] và dù điều này không hề đi đến “sự thỏa hiệp,” nhưng nó có nghĩa là khi một thời đại mới xuất hiện, chính nó thay đổi các phong tục, ngôn ngữ và suy nghĩ của con người, thì Giáo Hội phải có nhiệm vụ chắc chắn rằng Truyền Thống của mình, trong sự toàn vẹn của nó, được trình bày cách nguyên tuyền và dễ hiểu. Dựa trên quan điểm này, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bày tỏ ước muốn của mình, đó là ước muốn muôn đời của Giáo Hội:
“Tôi nhằm chính yếu vào… để khẳng định lại sự liên tục cùng với sự đổi mới không ngừng trong giáo lý về vấn đề xã hội của Giáo Hội. Thật vậy, liên tục và canh tân xác nhận giáo huấn của Giáo Hội có giá trị bền vững… Hai tính chất đó là đặc tính của giáo huấn Giáo Hội về vấn đề xã hội. Một đàng, giáo huấn đó bền vững bởi vì đồng nhất trong hứng khởi nền tảng, trong các ‘nguyên tắc suy tư,’ trong các ‘tiêu chuẩn phán đoán,’ trong các ‘đường hướng hoạt động’ cơ bản, và nhất là trong mối liên lạc chính yếu với Tin Mừng của Chúa; đàng khác, giáo huấn đó luôn luôn mới mẻ vì có những thích nghi cần thiết và hợp thời do những yêu cầu của những thay đổi trong hoàn cảnh lịch sử, và sự nối tiếp liên tục của những biến cố đan kết nên đời sống con người và đời sống xã hội.”[30]
Nếu chúng ta nghiêm túc thừa nhận Giáo Hội như một thẩm quyền (nếu không, thì chúng ta dĩ nhiên đang làm mất thời giờ của mình), thì khi ấy chúng ta phải chấp nhận toàn thể Giáo Hội, chứ không nên lượm lặt và chọn lựa những phần nào đó vì nó làm hài lòng chúng ta. Bây giờ, điều này dường như dễ dàng trong nguyên tắc – nhưng cái gì sẽ xảy ra khi chúng ta phải đối phó với một điều xem ra mâu thuẫn trong truyền thống của chính Giáo Hội? Cái gì sẽ xảy ra nếu Giáo Hội dường như “thay đổi suy nghĩ của mình” hoặc trở thành “một ngôi nhà tự chia rẽ?”[31] Có phải điều này không thôi thúc chúng ta chọn ở phe này để chống lại phe kia không, dẫu chúng ta có hay không có óc bè phái hoặc những giai đoạn lịch sử? Đây là một tình huống khó khăn, thế nhưng quan điểm của cuốn sách này là không có bất kỳ mâu thuẫn nào như thế trong thực tế. Điều này cho phép độc giả yên tâm vì họ sẽ không phải đối mặt với bất kỳ câu hỏi hóc búa nào về vấn đề to lớn này.
-
-
3. Những lưu ý về nguồn tài liệu được tham khảo
-
- “Trước hết, liên quan đến việc nghiên cứu, Chúng tôi mong muốn và quy định rằng triết học kinh viện được chọn làm nền tảng cho khoa học thánh… Và khi nói đến triết học kinh viện, chúng tôi muốn nói đến gia sản mà vị Thánh Tiến sĩ Thiên Thần đã để lại cho chúng ta… Hơn nữa, các giáo sư hãy nhớ rằng họ không thể nào gạt Thánh Tôma Aquinô sang một bên mà không gặp phải những nguy hại nghiêm trọng, đặc biệt trong những vấn đề siêu hình.”[18]
- “Kỳ thực, đây là lần đầu tiên mà Huấn Quyền Giáo Hội đưa ra một bản văn diễn giải khá sâu rộng về các yếu tố cơ bản của học thuyết luân lý, và cũng là lần đầu tiên mà Huấn Quyền trình bày những lý lẽ của công việc phân định mục vụ là công việc phải nói rất cần thiết trong những tình huống thực tiễn và những điều kiện văn hóa phức tạp và lắm gay cấn như hiện nay.”[19]
-
-
3. Những lưu ý về nguồn tài liệu được tham khảo
-
PHẦN I. VAI TRÒ CỦA GIÁO HỘI
-
1. Lời minh giải cho học thuyết
-
- “Thưa Hoàng đế uy nghi, có hai quyền hành ngự trị trên thế giới này: quyền linh thánh của các Giám mục và quyền của các vua. Quyền của các Giám mục có uy thế lớn hơn quyền của các vua, vì các Giám mục sẽ phải đưa ra lời giải trình về mọi người, kể cả các vua trước tòa Thiên Chúa.”[21]
- “Giáo Hội phải loan báo các nguyên tắc luân lý trong mọi thời và mọi nơi, kể cả những nguyên tắc về trật tự xã hội, cũng như phải phán đoán về tất cả các thực tại nhân sinh, trong mức độ mà các quyền căn bản của con người hay việc cứu độ các linh hồn đòi hỏi.”[23]
- “… nói cho đúng, tình trạng xã hội kinh tế ngày nay là trở lực kinh khủng nhất, khiến loài người phần đông không chu toàn được việc khẩn cấp hơn cả, là việc rỗi linh hồn.”[24]
- “Tôi nhằm chính yếu vào… để khẳng định lại sự liên tục cùng với sự đổi mới không ngừng trong giáo lý về vấn đề xã hội của Giáo Hội. Thật vậy, liên tục và canh tân xác nhận giáo huấn của Giáo Hội có giá trị bền vững… Hai tính chất đó là đặc tính của giáo huấn Giáo Hội về vấn đề xã hội. Một đàng, giáo huấn đó bền vững bởi vì đồng nhất trong hứng khởi nền tảng, trong các ‘nguyên tắc suy tư,’ trong các ‘tiêu chuẩn phán đoán,’ trong các ‘đường hướng hoạt động’ cơ bản, và nhất là trong mối liên lạc chính yếu với Tin Mừng của Chúa; đàng khác, giáo huấn đó luôn luôn mới mẻ vì có những thích nghi cần thiết và hợp thời do những yêu cầu của những thay đổi trong hoàn cảnh lịch sử, và sự nối tiếp liên tục của những biến cố đan kết nên đời sống con người và đời sống xã hội.”[30]
-
-
1. Lời minh giải cho học thuyết
-
-
3. Những lưu ý về nguồn tài liệu được tham khảo
-
- “Trước hết, liên quan đến việc nghiên cứu, Chúng tôi mong muốn và quy định rằng triết học kinh viện được chọn làm nền tảng cho khoa học thánh… Và khi nói đến triết học kinh viện, chúng tôi muốn nói đến gia sản mà vị Thánh Tiến sĩ Thiên Thần đã để lại cho chúng ta… Hơn nữa, các giáo sư hãy nhớ rằng họ không thể nào gạt Thánh Tôma Aquinô sang một bên mà không gặp phải những nguy hại nghiêm trọng, đặc biệt trong những vấn đề siêu hình.”[18]
- “Kỳ thực, đây là lần đầu tiên mà Huấn Quyền Giáo Hội đưa ra một bản văn diễn giải khá sâu rộng về các yếu tố cơ bản của học thuyết luân lý, và cũng là lần đầu tiên mà Huấn Quyền trình bày những lý lẽ của công việc phân định mục vụ là công việc phải nói rất cần thiết trong những tình huống thực tiễn và những điều kiện văn hóa phức tạp và lắm gay cấn như hiện nay.”[19]
-
-
3. Những lưu ý về nguồn tài liệu được tham khảo
-
PHẦN I. VAI TRÒ CỦA GIÁO HỘI
-
1. Lời minh giải cho học thuyết
-
- “Thưa Hoàng đế uy nghi, có hai quyền hành ngự trị trên thế giới này: quyền linh thánh của các Giám mục và quyền của các vua. Quyền của các Giám mục có uy thế lớn hơn quyền của các vua, vì các Giám mục sẽ phải đưa ra lời giải trình về mọi người, kể cả các vua trước tòa Thiên Chúa.”[21]
- “Giáo Hội phải loan báo các nguyên tắc luân lý trong mọi thời và mọi nơi, kể cả những nguyên tắc về trật tự xã hội, cũng như phải phán đoán về tất cả các thực tại nhân sinh, trong mức độ mà các quyền căn bản của con người hay việc cứu độ các linh hồn đòi hỏi.”[23]
- “… nói cho đúng, tình trạng xã hội kinh tế ngày nay là trở lực kinh khủng nhất, khiến loài người phần đông không chu toàn được việc khẩn cấp hơn cả, là việc rỗi linh hồn.”[24]
- “Tôi nhằm chính yếu vào… để khẳng định lại sự liên tục cùng với sự đổi mới không ngừng trong giáo lý về vấn đề xã hội của Giáo Hội. Thật vậy, liên tục và canh tân xác nhận giáo huấn của Giáo Hội có giá trị bền vững… Hai tính chất đó là đặc tính của giáo huấn Giáo Hội về vấn đề xã hội. Một đàng, giáo huấn đó bền vững bởi vì đồng nhất trong hứng khởi nền tảng, trong các ‘nguyên tắc suy tư,’ trong các ‘tiêu chuẩn phán đoán,’ trong các ‘đường hướng hoạt động’ cơ bản, và nhất là trong mối liên lạc chính yếu với Tin Mừng của Chúa; đàng khác, giáo huấn đó luôn luôn mới mẻ vì có những thích nghi cần thiết và hợp thời do những yêu cầu của những thay đổi trong hoàn cảnh lịch sử, và sự nối tiếp liên tục của những biến cố đan kết nên đời sống con người và đời sống xã hội.”[30]
-
-
1. Lời minh giải cho học thuyết