Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

Có lẽ, vấn đề quan trọng nhất của Giáo Hội đó là luôn phải giữ hiệu lực của luật luân lý trong suốt cuộc chiến, giống như trong những thời điểm khác. Cần phải lập tức bác bỏ câu nói: “tất cả đều tốt trong tình yêu và chiến tranh,” mà con người rất quen nại đến để bào chữa cho bất kỳ loại hành vi nào của mình.[432]

  1. Thường dân

Trong các số 2313 và 2314, sách GLHTCG nhấn mạnh quan điểm rằng, trong suốt cuộc chiến, không bao giờ được nhắm mục tiêu vào thường dân – không vì bất kỳ lý do hay dưới bất kỳ hoàn cảnh nào. Đối xử vô nhân đạo với tù nhân hay nhắm mục tiêu vào các vùng dân cư là một “tội ác chống lại Thiên Chúa và chính con người.” Nước Mỹ đã có mặt ở cả hai phía của vấn nạn này, họ nổi tiếng trong cách đối xử nhân đạo với tù nhân và dân cư trong những cuộc xung đột, tuy nhiên lại tai tiếng khi nhắm mục tiêu cách trực tiếp vào toàn thể khu vực dân cư trong những lúc khác. Nguyên tắc này lại trở nên quan trọng hơn nữa khi công nghệ phát triển, dù chúng ta đang nói về vũ khí hạt nhân hay chiến tranh sinh học / hóa học, bởi vì các quốc gia giàu có và phát triển luôn luôn là những nơi có được những phương tiện này, và cũng chính vì thế mà họ luôn luôn là những quốc gia dễ bị cám dỗ sử dụng đến những phương tiện đó.

  1. Quy tắc hiệu quả kép

Giáo Hội không đòi hỏi sự hoàn hảo. Thần học Công giáo cho phép một hành động có thể vừa mang hậu quả tốt lẫn hậu quả xấu, và ở điểm này, Giáo Hội thừa nhận quy tắc hiệu quả kép. Lấy một trong những ví dụ của Thánh Tôma rằng, sẽ không được phép ước muốn giết một người, thế nhưng có thể giết người trong trường hợp tự vệ. Hành vi này có một hiệu quả kép, thế nhưng nó được phép bởi vì, mặc dù có thể thấy trước điều xấu, thế nhưng nó được thực hiện nhằm phục vụ cho điều tốt trực tiếp là bảo toàn mạng sống của mình. Cái chết của kẻ tấn công là một hậu quả không được nhắm đến, dẫu có thể thấy trước, của phản ứng đúng đắn nơi nạn nhân.

Áp dụng luật này trong chiến tranh, thường không thể tránh khỏi điều này là trong một cuộc xung đột, sẽ xảy ra thêm những thiệt hại phụ; tuy nhiên thiệt hại phụ này có thể không bao giờ là toan tính trực tiếp của kẻ tấn công. Xin nhắc lại những vụ thả bom ở Dresden, Hiroshima và Nagasaki, các vùng dân cư đã bị nhắm mục tiêu trực tiếp nhằm gây áp lực để buộc chính phủ của họ phải quy phục đầu hàng. Vì nhắm mục tiêu vào người dân chính là ý hướng trực tiếp của các vụ tấn công, cho nên nó không được liệt vào quy luật hiệu quả kép và đó là một cuộc chiến chống lại học thuyết chiến tranh chính đáng.

  1. Việc giải trừ quân bị

Bởi vì tất cả các quốc gia đều phải làm việc hướng đến hòa bình, và vì việc sở hữu vũ khí chỉ đúng đắn khi nó đúng với mục đích duy trì hòa bình, thế nên dường như chính các loại vũ khí, việc mua và bán chúng, cũng như số lượng được một quốc gia sản xuất và duy trì, chính là các đối tượng mà Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội quan tâm đến. Vì lý do này mà các loại vũ khí không thể được xem là một hạng mục hàng hóa đơn giản có thể được mua và bán ở các thị trường quốc tế hay thị trường nội địa.[433]

Giáo Hội không đồng ý với quan niệm phổ biến rằng, việc tích lũy vũ khí, đặc biệt là vũ khí hạt nhân, là một phương thế hiệu quả hay cần thiết để đạt được hòa bình: “Thật là nghịch lý, nhiều người xem việc tích lũy vũ khí như một phương thế để can ngăn đối phương khỏi gây chiến. Họ coi đó là phương thế hữu hiệu nhất, khả dĩ bảo đảm hòa bình giữa các quốc gia. Về mặt luân lý, phải rất dè dặt đối với phương thức can ngăn này. Việc chạy đua vũ trang không bảo đảm được hòa bình. Việc đó không những không loại bỏ các nguyên nhân gây chiến, mà còn có nguy cơ làm cho các nguyên nhân đó trở thành trầm trọng hơn.”[434] Đúng hơn, Huấn quyền đề xuất một con đường đúng đắn đó là phải có một chính sách hạn chế sản xuất vũ khí hạt nhân kết hợp với việc giảm bớt các loại vũ khí hạt nhân trên diện rộng, cũng như dùng các loại vũ khí để tấn công cách bừa bãi.

  1. Chủ nghĩa khủng bố

Sự xuất hiện của hoạt động khủng bố trên cấp độ toàn cầu đã thực sự gây ra một khó khăn lớn trong việc duy trì chiến tranh chính đáng, vì không chỉ các tổ chức khủng bố thường không phải là các tổ chức chính phủ, nhưng họ còn tuyên bố là hành động nhân danh niềm tin tôn giáo của một nhóm đông người. Tuy nhiên, chủ nghĩa khủng bố đã bị Huấn quyền nhắm cách trực tiếp và không khoan nhượng, được tóm tắt ở các đoạn từ 513 đến 515 trong sách Tóm lược Học thuyết Xã hội (Compendium), thêm vào đó, việc lên án chủ nghĩa khủng bố hình thành nên một lời bình luận chính trong các huấn từ cho các Ngày Quốc Tế Hòa Bình mà các Đức Giáo hoàng thường đưa ra.

Thứ nhất, vì các nhóm khủng bố lấy danh nghĩa tôn giáo, thay vì ý thức hệ, chủ nghĩa khủng bố đã tiếp nhiên liệu cho câu chuyện hoang đường lâu năm rằng, bản chất tôn giáo là một hiện tượng bạo lực. Câu chuyện hoang đường này đã từng là trào lưu ở phương Tây trong nhiều thế kỷ, và được các chế độ thế tục dùng để khẳng định thiên kiến, củng cố quan niệm rằng càng “kiềm nén” và loại trừ tôn giáo ra khỏi lĩnh vực công cộng, cách cụ thể là chính trị, thế giới sẽ càng tốt đẹp hơn. Các Đức Giáo hoàng đã cẩn thận bác bỏ quan niệm này cách cụ thể, các ngài nói rằng “lòng căm thù, sự cuồng tín và chủ nghĩa khủng bố đã xúc phạm, báng bổ danh thánh Chúa đồng thời làm biến dạng hình ảnh của con người.”[435] “Tuyên bố mình là một tên khủng bố nhân danh Chúa là một sự báng bổ và lộng ngôn.”[436]

Hơn nữa, Giáo Hội đã nỗ lực để tách biệt bạo lực được thực hiện nhân danh tôn giáo khỏi chính tôn giáo, nhắc nhở thế giới rằng, trách nhiệm của kẻ phạm tội luôn luôn mang tính cá nhân, và chỉ là một nhóm thiểu số hung bạo mà thôi.[437]

Chính vấn đề này cũng được Giáo Hội xem như một lời mời gọi phải làm cái gì khác hơn là chiến tranh chính đáng, cũng như săn lùng những kẻ khủng bố nhiều hơn nữa. Người ta nói rằng, vấn nạn này cũng mời gọi sự nhận thức và suy tư:

“Không thể chỉ giới hạn cuộc chiến chống khủng bố vào những chiến dịch đàn áp và trừng phạt. Điều cần thiết đó là, việc dùng đến vũ lực, thậm chí khi cần thiết, phải đi đôi với việc can đảm phân tích một cách rõ ràng những nguyên nhân đằng sau các cuộc tấn công khủng bố. Cuộc chiến chống khủng bố cũng phải được điều khiển trên các cấp độ chính trị và giáo dục… bằng việc loại trừ đi những nguyên nhân nền tảng của các tình trạng bất công vốn thường xuyên dẫn con người đến những hành động tuyệt vọng và bạo lực…”[438]

Với nhiều người, thật khó chấp nhận ý tưởng là, hành vi hung ác của những kẻ khủng bố có thể bắt nguồn cách nào đó từ chính hành vi của những nhóm người mà họ tấn công; nói như vậy thì có vẻ không công bằng, và dường như cho rằng chúng ta đang miễn tội cho những kẻ đang hành hung người khác. Thế nhưng không phải vậy: Giáo Hội không cố xóa bỏ lời lên án những kẻ khủng bố, nhưng mong muốn chúng ta hãy mở rộng đôi mắt mà nhìn vào từng mắt xích trong chuỗi các sự kiện. Thật dễ để thét lên: “Chúng ghét sự tự do của chúng ta,” và rồi để mọi sự vẫn như thế, thế nhưng những câu khẩu hiệu như vậy luôn luôn là những nỗ lực trẻ con hầu tránh phải tìm hiểu những nguyên nhân thực sự cho từng sự kiện cụ thể, vốn luôn luôn phức tạp hơn rất nhiều và thường cũng chẳng thích thú gì để bàn luận.

Cuối cùng, các Đức Giáo hoàng mời gọi con người hãy tránh xa cơn cám dỗ vốn đã tăng trưởng cùng với chủ nghĩa khủng bố, và thực sự phát biểu cho một trong những thắng lợi lớn lao nhất của chủ nghĩa khủng bố, cơn cám dỗ này thúc giục người ta vứt bỏ những quy tắc và thủ tục truyền thống, đồng thời lờ đi chiều kích tương ứng với đời sống con người dựa trên những lý do cho rằng chính những kẻ khủng bố đã làm như vậy. Thay vì đi theo con đường hạ giá nhân phẩm và vô trật tự, Giáo Hội dạy rằng những tình huống như vậy đòi hỏi sự hợp tác mới mẻ giữa các quốc gia, và không phải là loại bỏ nhưng đúng hơn là tái khẳng định giá trị của đời sống con người, các quy tắc quốc tế và các thủ tục mang tính hợp tác nhằm giúp đánh tan thứ bệnh dịch nguy hiểm này.[439]

Tóm kết về sự dữ đó, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói: “Những kẻ giết chóc bằng các hành vi của chủ nghĩa khủng bố thực sự mất hết hy vọng vào tình người, vào cuộc sống, và vào tương lai. Trong cái nhìn của họ, mọi sự đều bị căm ghét và hủy diệt.”[440]

Và Đức Bênêđictô XVI chỉ ra con đường cần thiết để giải quyết vấn nạn này, không phải từ bỏ lề luật và phẩm giá con người, chấp nhận những biện pháp kinh hoàng, tra tấn, và bất công, nhưng đúng hơn mời gọi mọi người hãy công bố nhiều hơn bao giờ hết sứ điệp của Kitô giáo:

“Trong quan cảnh của những mối nguy hiểm mà nhân loại đang đối diện ở thời đại này, mọi tín hữu Công giáo hiện diện ở khắp nơi trên thế giới có bổn phận loan truyền và thể hiện một cách trọn vẹn hơn bao giờ hết “Tin mừng Bình an,” đồng thời cho thấy rằng, việc thừa nhận chân lý trọn vẹn của Thiên Chúa là điều kiện đầu tiên và tuyệt đối cần thiết cho việc củng cố chân lý của hòa bình.”[441]

Và một lời cảnh báo cuối cùng từ một trong những vị thánh được tôn phong gần đây nhất của Giáo Hội, đó là

“Không có hòa bình nếu không có công lý, không có công lý nếu không có thứ tha: Tôi sẽ không mệt mỏi nhắc lại lời cảnh báo này cho những ai, vì lý do này hay lý do khác, đang nuôi dưỡng lòng hận thù, khao khát muốn báo oán hay ý chí muốn hủy diệt.”[442]

 

 

 

 

[1] LS, 121.

[2] Harold Robbins, Sun of Justice (London, 1938), p. 9.

[3] AM, 5-6.

[4] HTXHCG, 25; LS, 71.

[5] HTXHCG, 24, 25.

[6] TMA, 13.

[7] Lv 25,3-6.

[8] Lv 25,8-10.

[9] Lv 25,13.

[10] Cf. 1 Cr 12,12-26.

[11] TMA, 13.

[12] Lv 25,14-17.

[13] Lv 25,23-24.

[14] TMA, 13.

[15] Lv 25,35-37.

[16] TMA, 13.

[17] Lv 25,3-6.

[18] PDG, 45.

[19] VS, 115.

[20] ST I-II, q. 2, a. 1.

[21] Trans. John S. Ott, Portland State University, from Andreas Thiel, ed. Epistolae Romanorum pontificum genuinae et quae ad eos scriptae sunt a S. Hilaro usque adPelagium II., vol. 1 (Brunsberg: Eduard Peter, 1867), Letter no. 12, pp. 349-358.

[22] ID, 14.

[23] Bộ giáo luật, điều 747, § 2.

[24] QA, 130.

[25] HTXHCG, 71; EN, 34.

[26] LS, 188.

[27] HTXHCG, 71; PP, 13.

[28] GS, 4.

[29] 1 Cr 9,19-23.

[30] SRS, 3; Cf. OA, 4.

[31] Mt 12,25.

[32] Mt 18,7.

[33] Đây là quan điểm của “những người theo chủ thuyết trống tòa” (sedevacantists), bắt nguồn từ tiếng Latin: sede vacante, nghĩa là “trống tòa.” Những người theo chủ thuyết trống toà thường khẳng định rằng: vị giáo hoàng hợp pháp cuối cùng là Đức Piô XII, và ngai tòa đã bị trống từ khi Đức Piô XII băng hà năm 1958.

[34] DH, 2.

[35] Liên kết đến Phần VI, 4d.

[36] DH, 1.

[37] Phần I, lb.

[38] CV, 10.

[39] CA, 43.

[40] HTXHCG, 8.

[41] LC, 32.

[42] St 2,18.

[43] Xem GS, 12; GLHTCG, 1879; PT, 23; LP, 10.

[44] CV, 53.

[45] DR, 5.

[46] DR, 6.

[47] DR, 7.

[48] Aristotle, Politics, Book I, part 2.

[49] HTXHCG, 125.

[50] CV, 68.

[51] HTXHCG, 117.

[52] RP, 16.

[53] ST II-II, q. 57, a. 1.

[54] Scholia to an Implicit Text, 2587.

[55] PT, 28.

[56] PT, 30.

[57] RH, 17.

[58] OA, 23.

[59] HTXHCG, 177.

[60] Mt 19,4.

[61] Man and Woman He Created Them: A Theology of the Body (Boston, 2006), pp. 132-133.

[62] Ibid., pp. 134-136.

[63] Ibid., pp. 137-141.

[64] LS, 157.

[65] HTXHCG, 212.

[66] CA, 39.

[67] HTXHCG, 130; Xem LS, 213.

[68] RN, 12-14

[69] CC, 1.

[70] FC, 49.

[71] FC, 86.

[72] FC, 21.

[73] FC, 38.

[74] FC, 21.

[75] ST I, q. 92, a. 2.

[76] ST II-II, q. 10, a. 12.

[77] PP, 13.

[78] HTXHCG, 164.

[79] LS, 141; EG, 234-237.

[80] EG, 67, 78, 89, 99; OA, 23.

[81] LS, 159.

[82] Portuguese Bishops’ Conference, Responsabilidade Solidária pelo Bem Comum (15 September 2003), 20.

[83] LS, 159.

[84] GS, 69.

[85] GLHTCG, 2402, 2452; HTXHCG, 176-181; CA, 6; RN, 22.

[86] ST II-II, q. 66, a. 2, ad. 1.

[87] RN, 8.

[88] ST II-II, q. 66, a. 2.

[89] RN, 13.

[90] Address to Indigenous and Rural People, Cuilapan, Mexico (29 January 1979), 6.

[91] LS, 93; HTXHCG, 177.

[92] LS, 67.

[93] LE, 14.

[94] ST II-II, q. 32, a. 7.

[95] GLHTCG, 2408.

[96] RN, 37.

[97] LS, 129.

[98] Xem Phần VI dưới đây.

[99] CV, 58.

[100] Cf. 1 Cr 12,12-26.

[101] SRS, 38.

[102] EV, 19.

[103] CV, 7.

[104] QA, 80.

[105] CV, 57.

[106] Xem LS, 119, 162, 208, 210.

[107] QA, 78.

[108] QA, 79.

[109] QA, 80.

[110] RN, 35.

[111] CV, 57.

[112] Những lời phát biểu này của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đáng được trích dẫn dài hơn, vì ngài nói với nước Mỹ và dân Mỹ: “Một trăm ba mươi năm trước đây, Tổng thống Abraham Lincoln đã hỏi rằng, liệu một đất nước ‘đã hình thành trong tự do và cống hiến cho một lời khẳng định rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng,’ có thể ‘tồn tại lâu dài’ hay không. Câu hỏi của Tổng thống Lincoln là một trong những câu hỏi dành cho các thế hệ người Mỹ hôm nay. Dân chủ không thể được duy trì khi không chia sẻ một trách nhiệm chung đối với vài chân lý đạo đức về con người và cộng đồng nhân loại. Một câu hỏi cơ bản trước mắt xã hội dân chủ, là: ‘chúng ta phải làm thế nào để sống chung với nhau?’ Trong việc tìm kiếm một câu trả lời cho câu hỏi này, xã hội có thể loại trừ chân lý đạo đức và lý luận đạo đức hay không? Sự khôn ngoan của Thánh Kinh vốn đã góp phần hình thành việc thành lập đất nước của các bạn có thể bị loại khỏi cuộc tranh luận đó hay không? Liệu việc làm này có đồng nghĩa với chuyện các bản văn thành lập nước Mỹ không còn có bất kỳ nội dung xác định nào nữa, nhưng chỉ là trang trí cho một ý kiến đang thay đổi hay không? Liệu việc làm này có đồng nghĩa với chuyện hàng chục triệu người Mỹ không còn có thể đóng góp những nhận định sâu xa nhất của họ vào sự hình thành các chính sách chung của đất nước hay không? Chắc chắn một điều quan trọng đối với nước Mỹ là các chân lý đạo đức tạo nên tự do phải được chuyển giao cho hậu thế. Mỗi thế hệ người Mỹ cần phải biết rằng tự do không bao gồm trong việc làm những gì mình thích, nhưng trong việc mình có quyền làm điều mình buộc phải làm.” Homily given at Oriole Park at Camden Yards, Baltimore on October 8, 1995, 7.

[113] GS, 17.

[114] VS, 86.

[115] VS, 87.

[116] VS, 86.

[117] LP, 5.

[118] LP, 5.

[119] LP, 7.

[120] Ga 8,32.

[121] Ga 18,37.

[122] VS, 87.

[123] St. John Paul II, Address to those taking part in the International Congress of Moral Theology (April 10, 1986), 1.

[124] Mt 19,16.

[125] VS, 34.

[126] St. John Paul II, Theology of the Body (Boston: 2006), pp. 150-156.

[127] ST I, q. 2, a. 3.

[128] VS, 35.

[129] LP, 7.

[130] LP, 12.

[131] VS, 41.

[132] LP, 10.

[133] LP, 11.

[134] VS, 48.

[135] VS, 49.

[136] DV, Introduction, 3.

[137] VS, 50.

[138] Xem Phần 4, 1c và 4g.

[139] VS, 34.

[140] VS, 64.

[141] St. Thomas Aquinas, On the Gospel of St. John, ch. 8, lect. 4, n. 3.

[142] LP, 6.

[143] St. Augustine, Enarratio in Psalmum XCIX, 7.

[144] GLHTCG, 1807.

[145] HTXHCG, 201.

[146] Xem ST II-II, q. 61, a.1; GLHTCG, 2426; HTXHCG, 201; CV, 36-37.

[147] GLHTCG, 2411.

[148] ST II-II, q. 61, aa. 1-2.

[149] Tuy rằng từ “tái phân phối” (redistribution) trở thành ghê tởm đối với vài nhóm, nhưng Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã dùng nó ít là tám lần trong Thông điệp Caritas in Veritate (xem số 32, 36, 37, 39, 42, 49).

[150] GLHTCG, 2411.

[151] GLHTCG, 2426; HTXHCG, 201.

[152] CV, 35.

[153] ST I-II, q. 91; ST I-II, q. 93, aa. 1-6.

[154] ST I-II, q. 94, a. 6.

[155] ST I-II, q. 91, a. 2.

[156] ST I-II, q. 93, a. 3.

[157] ST I-II, q. 94, a. 2.

[158] ST I-II, q. 94, a. 2.

[159] HTXHCG, 73.

[160] VS, 78.

[161] HV, 14.

[162] ST II-II, q. 48.

[163] ST II-II, q. 48-49.

Nội dung trang này
<1 ... 2021 22 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!