Điều muốn nói ở đây là mặc dù Giáo Hội không ngập ngừng trong việc đề phòng thực tại của những hành vi xấu xa tự bản chất, thế nhưng Giáo Hội không đòi phải biết chính xác mức độ ưng thuận trong tâm hồn của chủ thể hành động. Ví dụ, Giáo Hội cho phép điều này là, một người bị đe dọa cực độ có thể không phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về một số hành vi của mình. Các hành vi vẫn còn sự dữ từ một quan điểm khách quan, thế nhưng nó phụ thuộc vào mức độ ưng thuận của ý chí nơi mỗi người, tội trạng của họ thay đổi – và phán quyết cuối cùng về tội trạng đó thuộc về Thiên Chúa. Nói theo lời của Thánh Luxia, chúng ta phải khẳng định rằng “không có sự ưng thuận của tâm trí, thì không có vết nhơ nào trên thân thể.”[195] Tức phải nói rằng, một người không ưng thuận với ý chí của mình, thì không có tội, dù cho người đó dính líu vào trong một hành vi xấu xa tự bản chất.
Sau khi đã đặt các nền tảng cho nghiên cứu của chúng ta bằng việc khảo sát vai trò của Giáo Hội,[196] bản tính con người,[197] quy luật đạo đức,[198] và các nguyên tắc trong Giáo huấn Xã hội Công giáo,[199] giờ đây chúng ta có thể chú ý đến việc áp dụng cụ thể tất cả các ý tưởng trên đây trong lãnh vực kinh tế.
Điều đâu tiên phải nói tới quan điểm của Công giáo về hoạt động kinh tế đó là quan điểm này dường như không hoàn toàn đơn giản như quan điểm về những hệ thống ý thức hệ hiện thời. Thực tế là không những phức tạp mà còn rất tinh vi nữa. Thí dụ, Giáo Hội nhấn mạnh đến công bằng không chỉ nhắm đến một ý nghĩa trực tiếp và nông cạn, nhưng hướng đến mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế:
“Giáo huấn xã hội của Giáo Hội luôn xác nhận rằng công bằng phải hiện diện trong mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, vì công bằng liên hệ đến con người và những nhu cầu của họ. Việc khám phá tài nguyên, việc tài chính, sản xuất, tiêu thụ và mọi giai đoạn khác trong chu kỳ kinh tế luôn có những dính líu đến luân lý. Vì thế mọi quyết định kinh tế đều có một hệ quả luân lý. Các khoa học xã hội và những xu hướng kinh tế ngày nay nhấn mạnh đến cùng kết luận này. Có một thời gian người ta nghĩ rằng kinh tế được trao cho việc sản xuất của cải, còn chính trị có trách nhiệm phân phát sự giàu sang đó. Ngày nay điều này xem ra khó hơn, vì những hoạt động kinh tế không bị hạn hẹp trong ranh giới địa lý, trong khi thẩm quyền chính trị bị hạn hẹp trong ranh giới địa phương. Vì thế các luật lệ công bằng ngay từ đầu phải được tôn trọng khi tiến trình kinh tế bắt đầu, chứ không phải sau đó hay cách tình cờ.”[200]
Ý niệm về các “giai đoạn” trên đây hơi xa lạ đối với cách nhìn kinh tế hiện đại, mặc dù nó quen thuộc với các quan điểm truyền thống về kinh tế chính trị. Theo truyền thống của Giáo Hội từ Thánh Augustinô đến Thánh Tôma, có bốn giai đoạn riêng biệt phải được xem xét. Đó là: sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu thụ.
Một trong những nỗi ám ảnh nhất của thời cận đại là việc tùy tiện đơn giản hóa mọi sự.[201] Mọi thứ phải được tối giản nhất có thể. Và như vậy có thể dễ dàng đoán được rằng, sự tinh tế không còn phù hợp với xu hướng phát triển này nữa. Với Adam Smith và sự ra đời của học thuyết kinh tế hiện đại, học thuyết cổ thời và toàn diện hơn trên đây đã bị cắt xén chỉ còn là sản xuất và trao đổi mà thôi (và thậm chí, bốn giai đoạn trên chỉ được giữ lại trong một hình thức hết sức nghèo nàn). Rốt cuộc là các nhà kinh tế “tân cổ điển” lại thêm vào hình thức của yếu tố thứ ba, yếu tố phân phối. Nhưng không ai thực sự sẵn sàng để khám phá lại yếu tố cuối cùng và là mảnh ghép quan trọng nhất – việc tiêu thụ sản phẩm – và vì thế, những tiếp cận đó không đầy đủ.
Phong trào đơn giản hóa mọi sự luôn luôn dẫn đến kết quả là phớt lờ đi những nét đặc trưng liên quan đến sự sống. Người ta đã thực hiện những cuộc tổng quát hóa toàn diện và làm biến chất chính các sự vật để chúng có thể được gom vào trong những hạng mục đơn giản và dễ dàng xử lý hơn. Đây là những hạng mục mà các nhà kinh tế học hiện nay dùng cho các chủ đề của họ. Thí dụ, chúng ta có thể đề cập đến nỗ lực biến tất cả các yếu tố kinh tế riêng biệt thành “hàng hóa,” trong khi có thể nói rằng chúng không phải là hàng hóa tí nào. Đất đai, sức lao động và tiền bạc nằm trong trường hợp này. Chúng minh họa cho điều mà nhà kinh tế học phân phối John Medaille gọi là “hàng ảo.”[202]
Hàng hóa là “những đối tượng và dịch vụ linh hoạt, có thể tái sản xuất vốn được tạo ra chính yếu là để trao đổi trên thị trường.”[203] Điển hình là chúng ta có thể phân biệt một sự vật có là hàng hóa hay không bằng cách quan sát hoạt động của nó trên biểu đồ cung cầu truyền thống. Nếu chúng ta có thể điều chỉnh mức giá và số lượng theo cách thức nào đó tỷ như làm trệch đồ hình của cung và cầu, chúng ta sẽ nhận ra điểm cân bằng của từng thị trường cụ thể, và điều đó sẽ làm nảy ra giải đáp cho câu hỏi hàng hóa hay dịch vụ là gì, hoặc ít là trong một mức độ chính xác nào đó, cũng giúp chúng ta xem xét sự vật nào là hàng hóa. Ba loại “hàng ảo” trên đây không đáp ứng được đòi hỏi thông thường khi đặt chúng trên biểu đồ cung cầu, điều đó cho thấy rằng, chúng không phải là hàng hóa, và rằng, nếu cứ một mực xem chúng là hàng hóa, thì điều đó sẽ làm cho học thuyết của chúng ta không còn mạch lạc và dẫn đến những lầm lẫn nghiêm trọng trong việc thực hành.
Sự thất bại của phép thử trên đây là một lý lẽ biện minh có tính cách lý thuyết cho việc từ chối xem những sự vật nào đó, tỷ như lao động của con người, như hàng hóa. Tuy nhiên, chúng ta cũng sẽ sai lầm khi cho rằng đó là lý do duy nhất để loại bỏ những cuộc phân loại kiểu như thế. Giáo lý Công giáo từ chối việc biến sức lao động con người thành hàng hóa vì đó là điều bất nhân hay “việc đối tượng hóa” dẫn đến một não trạng như thế và sẽ tiếp tục bác bỏ thái độ này trên nền tảng nhân phẩm, dù là nó khả thi về mặt lý thuyết. Sự chống đối đó vì thế sẽ được đề cập trong diễn biến của nó, tuy nhiên điều quan trọng đối với chúng ta là thừa nhận rằng quan điểm tân cổ điển đã thất bại ở cả hai khía cạnh: luân lý và lý thuyết. Giờ đây chúng ta sẽ lần lượt đi vào ba loại hàng ảo này.
Đất đai không thể được kể là một loại hàng hóa bởi một lý do hết sức đơn giản rằng nó không được làm ra do sức lao động của con người. Đất đai là cái mà nhờ công lao vất vả của con người để làm ra các hàng hóa. Nó được giả định trước, và vì thế là điều trước hết, bởi tất cả các hoạt động kinh tế. Trong một nghĩa hạn hẹp nào đó, nhờ lao động của con người, đất đai có thể sẽ trở nên mầu mỡ hơn hoặc sẽ xơ xác đi. Thế nhưng, các khái niệm về sản xuất và tái sản xuất đều sụp đổ khi áp dụng cho đất đai.[204]
Nếu buộc phải sắp xếp đất đai theo những thuật ngữ quy ước, chúng ta có thể gọi chính xác đất đai là một hình thức “vốn liếng.” Quả vậy, nó là hình thức nguyên thủy nhất của vốn liếng. Mặc dù chúng ta có thể định giá, mua hoặc bán một phần đất nào đó, nhưng với bản chất độc nhất vô nhị của mình, nó ngăn không để mình bị đối xử như một loại hàng hóa khi chịu sức ép của thị trường. Đó là lý do tại sao đất đai lại được quan tâm cách đặc biệt trong suốt lịch sử. Thí dụ, Cựu ước có nói về đất đai như sau: “Đất thì không được bán đứt, vì đất là của Ta, còn các ngươi chỉ là ngoại kiều, là khách trọ nhà Ta.”[205] Hơn nữa, vào thời trung cổ, duy chỉ có nhà vua mới có quyền “làm chủ” đất đai, còn tất cả những người khác – công tước, hiệp sĩ, nông dân, nông nô – chỉ là kẻ làm thuê trung thành của nhà vua, là kẻ duy nhất giữ vai trò của Chúa (được thừa nhận như thế), Đấng là chủ nhân thực sự.
Truyền thống Năm Đại Xá là bằng chứng cho bản tính độc nhất vô nhị của quyền sở hữu đất. Hơn nữa, chúng ta cũng nên đề cập đến một hình thức truyền thống khác về quyền sở hữu đất được biết đến như là “công thổ.” Hình thức sở hữu chung này, được bổ túc nhờ nhấn mạnh lên sự phân phối đất cách công bằng giữa những cá nhân, được công nhận lại cách liên tục trong GHXH.[206] Thực tế, việc phân phối lại đất đai cách công tâm phải được khuyến khích mở rộng, đặc biệt là trong những quốc gia mà sự tập trung đất đai đưa đến tình trạng điền thổ bị bỏ hoang (latifundium).[207]
Người ta có thể nói nhiều điều, và đã nói nhiều như thế về bản chất lao động của con người cũng như phẩm giá lao động. Tuy nhiên, trong thời hiện đại từ buổi đầu kỷ công nghiệp, chân lý về lao động của Kitô Giáo đã bị chống đối bởi nhiều khuynh hướng tư tưởng kinh tế và duy vật khác nhau. Điều đáng kể nhất trong những xu hướng đó là ước mong biến sức lao động thành một món hàng, dựa trên việc giả định rằng, giá cả của nó phải được xác định và chỉ dựa trên các nhân tố thị trường mà thôi:
“Đối với một số người theo các trào lưu tư tưởng này, việc lao động được hiểu và bị đối xử y như một loại “hàng hóa” mà người lao động và đặc biệt là người công nhân – bán cho người chủ thuê là người đồng thời làm chủ vốn, nghĩa là làm chủ toàn bộ các dụng cụ lao động và những phương tiện để sản xuất… Cái nguy cơ của khuynh hướng muốn coi lao động như một loại “hàng hóa” đặc biệt (biệt loại) hoặc như một thứ “lực lượng” vô danh cần cho sản xuất vẫn luôn tồn tại (có người dùng đến cả danh từ “lực lượng lao động”), đặc biệt khi toàn bộ cách thức xem xét các vấn đề về kinh tế dựa trên những nguyên tắc của chủ nghĩa kinh tế duy vật.”[208]
Những lời trên đây được trích từ Thông điệp Laborem Exercens (lao động của con người), được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II công bố năm 1981. Mười năm sau, trong Thông điệp Centesimus Annus (bách chu niên), ngài đã khen ngợi những ai đã thành công trong việc dung hòa những nguyên tắc trên đây với quan điểm chính trị của họ, cũng như với nỗ lực “giải thoát việc lao động ra khỏi tình trạng bị coi chỉ là một ‘món hàng.’
“… Chúng ta thấy rằng trong một số quốc gia và theo một vài quan điểm, người ta tham gia vào một nỗ lực tích cực nhằm tái thiết một xã hội dân chủ được gợi hứng bởi công bình xã hội, làm cho chủ nghĩa cộng sản mất đi tiềm lực cách mạng phát xuất từ đám người bị bóc lột và áp bức. Cách chung những cố gắng này tìm cách duy trì những bộ máy của thị trường tự do bằng cách bảo đảm những điều kiện của một sự tiến triển kinh tế vững chắc và lành mạnh, nhờ sự ổn định tiền tệ và hài hòa trong những tương quan xã hội, nhờ đó con người có thể dùng lao động mà kiến tạo một tương lai tốt đẹp cho chính mình và cho con cái. Đồng thời, người ta tìm cách để những cơ cấu thị trường không còn là điểm quy chiếu duy nhất của đời sống xã hội, và người ta muốn bắt những bộ máy ấy phải phục tùng sự kiểm soát công khai được gợi hứng từ nguyên tắc của cải trần thế được dành cho mọi người. Công ăn việc làm dồi dào, hệ thống an ninh xã hội vững chắc, huấn nghệ, tự do lập hội và hoạt động mạnh mẽ của các nghiệp đoàn, sự bảo trợ xã hội trong trường hợp thất nghiệp, những phương tiện tham gia dân chủ vào đời sống xã hội, tất cả những điều ấy, trong bối cảnh như thế làm cho lao động tránh khỏi hoàn cảnh trở thành một ‘hàng hóa’ và bảo đảm phẩm cách của lao động.”[209]
Chủ đề về lao động vẫn sẽ là một đề tài liên tục xuyên suốt phần còn lại trong nghiên cứu của chúng ta.
“Tiền phải là tôi tớ chứ không phải ông chủ!”[210] Thế nhưng tiền không thể bị kiềm chân ở vị trí đó và thực sự nó sẽ luôn luôn là ông chủ, nếu như bản chất và mục đích của nó bị hiểu sai, hoặc nếu nó biến thành công cụ dùng riêng, cũng như biến thành công cụ thao túng của một tầng lớp đặc biệt nào đó.
Như chúng ta đã biết, có rất nhiều điểm bất đồng liên quan đến chính sách về tiền tệ bắt nguồn từ những quan niệm sai, những lầm lẫn và sự thiếu thốn có tích cách phổ quát về tri thức liên can đến bản chất của chính đồng tiền. Khi đối diện với câu hỏi: “tiền là gì?” dường như hầu hết chúng ta điều đề cập đến nó như một khái niệm, bao lâu chúng ta xem bản chất của nó như một cái gì đó hợp tình hợp lý; nhưng nếu chúng ta dừng lại và xem xét chi tiết câu hỏi ấy, chúng ta sẽ nhận thấy rằng chúng ta chẳng biết gì về hệ thống tiền bạc thực sự hoạt động thế nào. Vì lẽ đó, để tránh rủi ro đi lạc quá xa khỏi chủ đề chính, chúng tôi sẽ cố gắng diễn tả ngắn gọn về tiền và những hoạt động của nó trong hệ thống hiện hành.
Tiền không phải là một khối tài sản, nhưng đúng hơn nó tượng trưng cho một khối tài sản. Nó là một đơn vị tài khoản được dùng trong giao dịch vốn đòi hỏi phải có sự luân chuyển khối tài sản trong nền kinh tế. Chính vì thế, tất cả tiền đều là tiền giấy, có nghĩa là nó được tạo ra “từ hư vô” và được thiết lập bởi sự đồng thuận của xã hội.
Việc thiết lập một loại tiền tệ mang tính “chính thức” chứng minh rằng chính quyền tuyên bố nắm giữ tiền hợp pháp và chấp nhận nó qua việc chi trả các loại thuế. Điều đó cũng gợi ý phương thức điều khiển sự cung ứng tiền bạc: khi chính quyền cần sự cung ứng tiền chậm lại thì chính quyền có thể đánh thuế lên tiền hiện hành – khi cần sự cung ứng tiền được tăng lên, chính quyền chỉ đơn giản là “tung” một loại tiền mới ra thị trường. Điều đó sẽ tạo nên “động lực” và sự cung ứng tiền được dàn xếp.
Một sự cung ứng tiền mang tính động lực sẽ là một thành tố rất cần thiết cho một nền kinh tế vững chắc vì lý do đơn giản, các nền kinh tế là yếu tố chính cho những giao động không ngừng. Một ví dụ đơn giản dễ hiểu:
Cứ tưởng tượng thế này, trong một khu làng nào đó, sản phẩm duy nhất ở chợ là lúa mì và sản lượng mùa vụ trong một năm thu được là 1000 giạ. Cộng đồng chấp nhận một loại tiền giấy được in với mệnh giá 1000 đô la. Trong tình huống này, 1 đô la tương đương với 1 giạ lúa. Đó là giá trị của đồng đô la ấy. Nhưng qua năm sau, nông dân ở đây sáng chế ra một cách thức luân canh cũng như cách bón phân mới cho mùa vụ và thu được 2000 giạ lúa trong năm đó. Điều đó có nghĩa là nền kinh tế mở rộng gấp đôi. Trong tình huống này, nếu như sự cung ứng tiền vẫn giữ nguyên 1000 đô la, thì giá trị của đồng tiền sẽ tăng lên gấp đôi, dẫn đến những kết quả không mong muốn cho những hạng mục trong các khoản tiết kiệm và khoản cho vay tồn đọng. Đó là lý do tại sao nếu những nhà kinh tế trong làng chú ý tới tình thế ấy hẳn nhiên họ sẽ đơn thuần tiêu tốn 1000 đô la khác vào trong nền kinh tế, có thể là cơ sở hạ tầng hay giáo dục. Việc cung ứng tiền sẽ vì thế mà phát triển cân bằng với nền kinh tế. Khi chắc chắn việc cung ứng tiền phản ảnh thị trường thì thị trường sẽ duy trì được thế vững bền. Mặt khác, nếu những nhà kinh tế trong làng chấp thuận vàng, hay một loại tiền hàng hóa nào khác, họ sẽ phải gánh chịu sự rối loạn bởi khối lượng vàng không những không ổn định mà còn phụ thuộc trực tiếp vào việc cung ứng. Đặt dưới một “chuẩn vàng” như thế, giá trị của tiền sẽ không thể nào điều chỉnh phù hợp với thị trường được và những giá trị đó sẽ rơi vào tình trạng nghiêng lệch. Không lâu sau, nền kinh tế sẽ trở thành chủ thể cho những thăng trầm của sự lạm phát và giảm phát.
Đó là lý do tại sao, dù nghe có vẻ nghịch với trực giác, lượng tiền phải có khả năng co giãn, bởi chính nền kinh tế luôn luôn co giãn – cũng như các thị trường càng ngày càng trở nên mở rộng và phức tạp. Đó là lý do tại sao chắc chắn sẽ thất bại khi cố gắng dùng những loại hàng hóa ở tình trạng tĩnh (hay gần như ở tình trạng tĩnh) – chẳng hạn như vàng – để làm hệ thống tiền tệ chính thức. Các mặt hàng đó có thể là độc quyền hoặc có thể khan hiếm. Nền cung ứng cũng vì thế mà đi vào sự đồng bộ hóa cùng với thị trường cách toàn cục ở điểm mà giá trị của tiền tăng lên hoặc thụt giảm mà không có bất cứ một mối liên kết tất yếu nào với các nhu cầu của thị trường. Mục đích duy nhất của tiền là để cho việc giao dịch được dễ dàng, nếu không như thế, tiền sẽ trở thành vật cản trở. Chính thị trường sẽ trở thành chủ thể cho sự cung ứng vàng hoặc một loại hàng hóa nào đó tình cờ được sử dụng như một loại tiền.
Như đã nói trên đây, tiền không phải để giao dịch: nó được dùng để việc giao dịch được dễ dàng. Điều này có nghĩa là, tiền không được sản xuất cho thị trường, dẫu cho nó sẽ chẳng có ý nghĩa khi tách rời khỏi thị trường. Việc có một thứ gọi là “thị trường tiền” tự nó là dấu chỉ của một hoạt động bất thường. Khi bị coi là một món hàng – tức là khi chúng ta tin rằng có thể “bắt tiền lao động” cho mình – chúng ta rơi vào tình thế giống với những người tích lũy tiền cũng đồng thời thực sự tích lũy những mặt hàng mà họ được khuyến khích “bán” hóa giá để thu về lợi nhuận vậy. Người ta bắt đầu “cho thuê” tiền của mình, cũng giống như bạn cho thuê một chiếc xe và trả tiền để sử dụng vậy. Nói cách khác, những người có tiền có thể cho vay và thu lời.
- “Giáo huấn xã hội của Giáo Hội luôn xác nhận rằng công bằng phải hiện diện trong mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, vì công bằng liên hệ đến con người và những nhu cầu của họ. Việc khám phá tài nguyên, việc tài chính, sản xuất, tiêu thụ và mọi giai đoạn khác trong chu kỳ kinh tế luôn có những dính líu đến luân lý. Vì thế mọi quyết định kinh tế đều có một hệ quả luân lý. Các khoa học xã hội và những xu hướng kinh tế ngày nay nhấn mạnh đến cùng kết luận này. Có một thời gian người ta nghĩ rằng kinh tế được trao cho việc sản xuất của cải, còn chính trị có trách nhiệm phân phát sự giàu sang đó. Ngày nay điều này xem ra khó hơn, vì những hoạt động kinh tế không bị hạn hẹp trong ranh giới địa lý, trong khi thẩm quyền chính trị bị hạn hẹp trong ranh giới địa phương. Vì thế các luật lệ công bằng ngay từ đầu phải được tôn trọng khi tiến trình kinh tế bắt đầu, chứ không phải sau đó hay cách tình cờ.”[200]
- “Đối với một số người theo các trào lưu tư tưởng này, việc lao động được hiểu và bị đối xử y như một loại “hàng hóa” mà người lao động và đặc biệt là người công nhân – bán cho người chủ thuê là người đồng thời làm chủ vốn, nghĩa là làm chủ toàn bộ các dụng cụ lao động và những phương tiện để sản xuất… Cái nguy cơ của khuynh hướng muốn coi lao động như một loại “hàng hóa” đặc biệt (biệt loại) hoặc như một thứ “lực lượng” vô danh cần cho sản xuất vẫn luôn tồn tại (có người dùng đến cả danh từ “lực lượng lao động”), đặc biệt khi toàn bộ cách thức xem xét các vấn đề về kinh tế dựa trên những nguyên tắc của chủ nghĩa kinh tế duy vật.”[208]
- “… Chúng ta thấy rằng trong một số quốc gia và theo một vài quan điểm, người ta tham gia vào một nỗ lực tích cực nhằm tái thiết một xã hội dân chủ được gợi hứng bởi công bình xã hội, làm cho chủ nghĩa cộng sản mất đi tiềm lực cách mạng phát xuất từ đám người bị bóc lột và áp bức. Cách chung những cố gắng này tìm cách duy trì những bộ máy của thị trường tự do bằng cách bảo đảm những điều kiện của một sự tiến triển kinh tế vững chắc và lành mạnh, nhờ sự ổn định tiền tệ và hài hòa trong những tương quan xã hội, nhờ đó con người có thể dùng lao động mà kiến tạo một tương lai tốt đẹp cho chính mình và cho con cái. Đồng thời, người ta tìm cách để những cơ cấu thị trường không còn là điểm quy chiếu duy nhất của đời sống xã hội, và người ta muốn bắt những bộ máy ấy phải phục tùng sự kiểm soát công khai được gợi hứng từ nguyên tắc của cải trần thế được dành cho mọi người. Công ăn việc làm dồi dào, hệ thống an ninh xã hội vững chắc, huấn nghệ, tự do lập hội và hoạt động mạnh mẽ của các nghiệp đoàn, sự bảo trợ xã hội trong trường hợp thất nghiệp, những phương tiện tham gia dân chủ vào đời sống xã hội, tất cả những điều ấy, trong bối cảnh như thế làm cho lao động tránh khỏi hoàn cảnh trở thành một ‘hàng hóa’ và bảo đảm phẩm cách của lao động.”[209]
- “Giáo huấn xã hội của Giáo Hội luôn xác nhận rằng công bằng phải hiện diện trong mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, vì công bằng liên hệ đến con người và những nhu cầu của họ. Việc khám phá tài nguyên, việc tài chính, sản xuất, tiêu thụ và mọi giai đoạn khác trong chu kỳ kinh tế luôn có những dính líu đến luân lý. Vì thế mọi quyết định kinh tế đều có một hệ quả luân lý. Các khoa học xã hội và những xu hướng kinh tế ngày nay nhấn mạnh đến cùng kết luận này. Có một thời gian người ta nghĩ rằng kinh tế được trao cho việc sản xuất của cải, còn chính trị có trách nhiệm phân phát sự giàu sang đó. Ngày nay điều này xem ra khó hơn, vì những hoạt động kinh tế không bị hạn hẹp trong ranh giới địa lý, trong khi thẩm quyền chính trị bị hạn hẹp trong ranh giới địa phương. Vì thế các luật lệ công bằng ngay từ đầu phải được tôn trọng khi tiến trình kinh tế bắt đầu, chứ không phải sau đó hay cách tình cờ.”[200]
- “Đối với một số người theo các trào lưu tư tưởng này, việc lao động được hiểu và bị đối xử y như một loại “hàng hóa” mà người lao động và đặc biệt là người công nhân – bán cho người chủ thuê là người đồng thời làm chủ vốn, nghĩa là làm chủ toàn bộ các dụng cụ lao động và những phương tiện để sản xuất… Cái nguy cơ của khuynh hướng muốn coi lao động như một loại “hàng hóa” đặc biệt (biệt loại) hoặc như một thứ “lực lượng” vô danh cần cho sản xuất vẫn luôn tồn tại (có người dùng đến cả danh từ “lực lượng lao động”), đặc biệt khi toàn bộ cách thức xem xét các vấn đề về kinh tế dựa trên những nguyên tắc của chủ nghĩa kinh tế duy vật.”[208]
- “… Chúng ta thấy rằng trong một số quốc gia và theo một vài quan điểm, người ta tham gia vào một nỗ lực tích cực nhằm tái thiết một xã hội dân chủ được gợi hứng bởi công bình xã hội, làm cho chủ nghĩa cộng sản mất đi tiềm lực cách mạng phát xuất từ đám người bị bóc lột và áp bức. Cách chung những cố gắng này tìm cách duy trì những bộ máy của thị trường tự do bằng cách bảo đảm những điều kiện của một sự tiến triển kinh tế vững chắc và lành mạnh, nhờ sự ổn định tiền tệ và hài hòa trong những tương quan xã hội, nhờ đó con người có thể dùng lao động mà kiến tạo một tương lai tốt đẹp cho chính mình và cho con cái. Đồng thời, người ta tìm cách để những cơ cấu thị trường không còn là điểm quy chiếu duy nhất của đời sống xã hội, và người ta muốn bắt những bộ máy ấy phải phục tùng sự kiểm soát công khai được gợi hứng từ nguyên tắc của cải trần thế được dành cho mọi người. Công ăn việc làm dồi dào, hệ thống an ninh xã hội vững chắc, huấn nghệ, tự do lập hội và hoạt động mạnh mẽ của các nghiệp đoàn, sự bảo trợ xã hội trong trường hợp thất nghiệp, những phương tiện tham gia dân chủ vào đời sống xã hội, tất cả những điều ấy, trong bối cảnh như thế làm cho lao động tránh khỏi hoàn cảnh trở thành một ‘hàng hóa’ và bảo đảm phẩm cách của lao động.”[209]