Đối với vấn đề này, điều cần nói là có vô số những đoạn Kinh Thánh chỉ dẫn cho chúng ta thấy thái độ mà chúng ta phải có đối với người nghèo và câu trên không phải là một trong số đó. Trong thực tế, khi đặt vào bối cảnh của nó, thì chẳng có gì liên quan đến người nghèo cả. Thánh Phaolô đang nói với những người rõ ràng là chẳng có nguy cơ bị đói. Bởi vậy, trong khi lời cảnh báo của Thánh nhân chắc chắn là chống lại những kẻ lười biếng, nhưng thật là một lỗi lầm tai ác khi coi toàn bộ những lời Kinh Thánh chống lại kẻ lười biếng đều nhắm đến người nghèo, ra như người nghèo chính là những người duy nhất có khả năng phạm lỗi đó.
Thật là ngây ngô khi nghĩ rằng đã có một thời mà người ta cảm thấy sung sướng với việc đóng thuế. Tuy vậy, Giáo Hội chưa bao giờ đặt vấn đề về việc thu thuế, trong tự bản chất, như một thủ tục đúng đắn – hơn nữa, chính Chúa Giêsu không cho chúng ta nhiều lý do để nghi ngờ việc Vua Caesar không được nhận điều thuộc về ông ta.[348] Và vì vậy, mặc dù có quá nhiều nhân tố đến nỗi chúng ta không tuyên bố được mức thuế bao nhiêu là chính đáng, thì ít nhất chúng ta cũng có thể đề cập đến vài đường lối chỉ đạo mà Giáo Hội đòi hỏi về vấn đề này.
Nguyên tắc thứ nhất, chắc chắn không còn phổ biến trong các trường phái ý thức hệ hiện đại, liên quan đến ý tưởng cho rằng chỉ thu thuế lợi tức những người có khả năng trả được và trong số lượng lớn hơn từ những ai thu nhập được lợi tức cao nhất từ hệ thống kinh tế mà họ sống trong đó. Như những lời Đức Piô XI nói trong Thông điệp Divini Redemptoris:
“Cũng cần phải có sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong việc tạo ra những điều kiện sống vật chất mà nếu không có những điều kiện này sẽ không có được một xã hội trật tự… Để đạt được mục tiêu này, vốn là điều bị đòi buộc bởi các nhu cầu về sự thịnh vượng chung, các tầng lớp giàu có phải tham gia vào việc gánh vác những gánh nặng xã hội mà nếu không làm điều này, xã hội loài người sẽ vô phương cứu chữa, và chính họ, những người thuộc tầng lớp giàu có, cũng không thể được bảo đảm. Tuy nhiên, các chính sách của Nhà nước nhằm đạt được mục tiêu này phải là những chính sách thế nào đó có thể thực sự tác động đến những người trong thực tế đang sở hữu nhiều hơn những gì họ chia sẻ trong những nguồn tài chính, cũng như tác động đến những ai vẫn tiếp tục tích góp tài chính mà làm phương hại nghiêm trọng đến người khác.”[349]
Không cần nói, việc áp dụng chính xác nguyên lý đó có thể tạo ra nhiều hình mẫu khác biệt, thế nhưng người ta có thể nói chắc ăn rằng hệ thống được biết đến như “thuế luỹ tiến” là một phương thức hoàn toàn không khó và thích hợp để hiện thực mục đích. Và điều này được diễn tả trong USCCB (Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ) khi nó nói rằng:
“Hệ thống thu thuế nên được tổ chức theo nguyên tắc luỹ tiến, để những người có nguồn tài chính tương đối lớn hơn thì trả một mức thuế cao hơn. Việc bao trọn nguyên lý này trong các chính sách thuế là một phương cách quan trọng để giảm tải các vấn đề bất cân xứng về thu nhập và giá trị tài sản trong đất nước. Cần phải ra tay giảm bớt hoặc điều chỉnh tình trạng sau, đó là hầu hết các loại thuế tiêu thụ và thuế theo số lương trả đặt một gánh nặng không cân xứng lên những người có nguồn thu nhập thấp.”[350]
Chỉ dẫn thứ hai, gắn liền với chỉ dẫn thứ nhất, đó là chính quyền phải miễn bất kể loại thuế thu nhập nào cho những người nằm dưới mức nghèo bởi gia cảnh của họ “được xác nhận là không đủ sức để mua lấy những thứ cần thiết nhất cho cuộc sống. Họ không buộc phải gánh vác thêm các loại thuế trên lương bổng nữa.”[351]
Trọng tâm của khái niệm đại xá trong Kinh Thánh là việc tái phân phối tài sản nhằm giảm bớt tình trạng tích lũy của cải và xóa bỏ nợ nần. Sự tập trung đó xuất hiện rất tự nhiên trong rất nhiều nền kinh tế, bởi không có gì là hoàn hảo, thế nhưng nó trở nên khuếch đại trong các quốc gia công nghiệp: “Mẫu thức phát triển của các xã hội công nghiệp là khả năng tạo ra số lượng tài sản khổng lồ, nhưng cũng có những thiếu sót cực kì nghiêm trọng khi đụng đến việc tái phân phối hoa lợi đó cách công bằng và thúc đẩy sự gia tăng ở những vùng kém phát triển.”[352]
GHXH đã dành khá nhiều thời gian để khuyến khích các chính phủ và các tư nhân hành động chống lại sự gia tăng của bất bình đẳng xã hội.[353] Đức Giáo hoàng Phanxicô còn đi xa tới mức gọi sự bất bình đẳng là “cội rễ của mọi tội ác xã hội.”[354] Và nếu chúng ta chấp thuận tính tương thuộc giữa quyền lực chính trị và kinh tế, vốn ngụ ý rằng bất bình đẳng về tài sản tất thiết luôn ẩn chứa bất bình đẳng về quyền lực chính trị, vậy thì không có gì khó để nhận ra tại sao nó lại như vậy.
Trên đây, chúng ta đã thảo luận về các khác biệt giữa công bằng phân phối và giao hoán. Công bằng giao hoán thì riêng tư, thiết thực và hiển nhiên nhất, thế nhưng nó cũng mơ hồ không kém. Việc xem xét các cuộc giao dịch mỗi ngày, dù cả đôi bên đều có ý muốn thành thực đến giá cả công bằng của các mặt hàng và các dịch vụ được trao đổi, thì họ hiếm khi đạt được mục tiêu. Khi mà ai đó trả giá cao hơn hay thấp hơn thì mở đầu cho sự mất thăng bằng trong hệ thống, và rồi một số lớn sai lệch bắt đầu chồng chất lên. Trên cấp độ xã hội, khi các chồng chất ấy đưa đến một điểm nào đó, thì sự vi phạm công bằng phân phối trở nên rõ ràng và, bởi vì công bằng phân phối là vai trò của Nhà nước, và vì rõ ràng rằng chỉ ở thời điểm đó Nhà nước mới có thể giải quyết được sự bất công, hành động chính trị có bổn phận đề nghị giải pháp. Cần chú ý rằng chúng ta mới chỉ đề cập đến việc giao dịch vốn dĩ là nơi con người chân thành nhắm đến giá cả công bằng. Nên lưu ý là chúng ta phải thừa nhận ở đây rằng các sai lệnh phải xảy ra và phải tích lũy. Chúng ta trông mong điều gì trong một xã hội, nơi con người được dạy cách sử dụng các phương thức theo cách sắp xếp riêng để trả ít nhất và thu lại nhiều nhất các giao dịch kinh tế? nơi mà một số người ở vị trí bóc lột và một số khác ở vị trí bị bóc lột? Một xã hội vốn quên đi Giá cả Công bằng mà thiên về tư lợi và động cơ lợi nhuận sẽ cần phải có hành động của Nhà nước hơn là của một xã hội vốn kiếm tìm sự công bằng do sự thỏa thuận với nhau, bởi vì nó sẽ tích cực tìm kiếm sự bất công trong mọi giao dịch. Sự cần thiết của công bằng phân phối trong trường hợp sự bất công diễn ra trên phạm vi lớn lại càng cấp bách hơn.
Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nói đến “những nguyên nhân cơ cấu gây ra rối loạn kinh tế.”[355] Sau này, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nối kết ý tưởng này, Ngài nói:
“Bao lâu những vấn đề về người nghèo chưa được giải quyết triệt để bằng cách loại bỏ quyền tự trị tuyệt đối của các thị trường cũng như quyền đầu cơ tài chính và nhờ việc đánh thẳng vào các căn nguyên trong cấu trúc gây ra bất bình đẳng, thì sẽ không bao giờ tìm thấy giải pháp nào cho những vấn đề của thế giới hoặc, cho vấn đề đói nghèo, hay bất cứ vấn đề nào khác. Bất bình đẳng là cội rễ của các bệnh hoạn trong xã hội.”[356]
Ở điểm này, Đức Phanxicô đi xa hơn nữa khi đưa ra lời thách thức bằng cách viện dẫn lời Đức Kitô: “Chính anh em hãy cho họ ăn!”[357]
Thế nhưng điều đó có nghĩa gì? Và các Đức Giáo hoàng đang nghĩ về điều gì? Chúng ta có thể bắt đầu nhờ việc để ý rằng rất nhiều vấn đề trong thế giới hiện đại là do tự chuốc lấy, được bén rễ trong những kế hoạch dở dang và trong tính ích kỷ:
“Việc coi mình là trung tâm, loài người tội lỗi có khuynh hướng xác nhận chính mình và thoả mãn với ước vọng vô tận về những thứ như: tiền bạc, quyền lực và khoái lạc, khinh miệt kẻ khác, cướp bóc cách bất công và đối xử với họ như những đồ vật hoặc công cụ. Như vậy, con người đã góp phần tạo ra những cấu trúc bóc lột và nô lệ mà chính con người đã lên án.”[358]
Song, dù cho chúng ta có thừa nhận phán đoán đó là xác đáng đi nữa thì chúng ta vẫn cần một phân tích rõ ràng hơn nếu như chúng ta hy vọng đạt được những giải pháp thiết thực. Vì lý do đó, một khảo sát nhanh chóng của GHXH đưa ra khá nhiều nguyên do rõ ràng hơn gây ra sự mất quân bình: tập trung đất đai và sự cần thiết cải cách ruộng đất, cụ thể cho những nước kém phát triển;[359] nạn thất nghiệp và tình trạng thiếu việc làm; nhiều rào cản không thể vượt qua được trong việc du nhập thị trường; các rào cản trong việc giáo dục;[360] ưu tiên đến phương tiện truyền thông và có nhiều chi phí rất cao trong việc quảng cáo làm lời cho thiểu số và loại trừ đa số.[361] Đối với điểm cuối cùng này, chúng ta có thể nói đến số người thuộc nhóm “giàu thông tin” đối lại với nhóm “nghèo thông tin,”[362] một vấn đề nảy sinh từ việc sử dụng không cân đối công nghệ. Sau cùng, tất cả các khả năng đó bao hàm hay khuyến khích tình trạng mắc nợ quy mô lớn, vốn có thể bị quy gán phần nào đó cho chọn lựa cá nhân, nhưng cũng có phần nào do nhu cầu.[363]
Nhưng có lẽ vấn đề được lặp đi lặp lại mà chúng ta đã đề cập đến, và là vấn đề được xem như khó giải quyết nhất, sự tập trung tài sản, và giải pháp đưa ra là tái phân phối tài sản.
Cụm từ “tái phân phối tài sản” có lẽ không chiếm được thiện cảm của nhiều câu lạc bộ, nhưng nó là một đề tài phổ biến trong GHXH. Trong Thông điệp Caritas in Veritate, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết:
“Hoạt động kinh tế không thể nào giải quyết được mọi vấn đề xã hội qua việc áp dụng lô-gích thương mại cách đơn giản. Lô-gích này phải nhắm đến việc đạt được công ích, là điều mà cộng đồng chính trị phải có trách nhiệm cách đặc biệt. Vì thế, không được quên rằng, một trong những nguyên nhân tạo nên sự mất quân bình trầm trọng là tách rời hoạt động kinh tế – vốn được quan niệm chỉ là sự làm giàu – với hoạt động chính trị vốn được coi là phương thế phục vụ công bằng qua việc tái phân phối.”[364]
Trong suốt Thông điệp, Đức Giáo hoàng sử dụng thuật ngữ “tái phân phối” tổng cộng 8 lần,[365] thậm chí đề cập cách vui mừng đến “khả năng tái phân phối tài sản trên quy mô rộng lớn chưa từng xảy ra trên phạm vi toàn cầu.”[366]
Dù điều đó làm sáng tỏ rằng Giáo Hội chấp nhận quan điểm ủng hộ sở hữu cá nhân hơn là chống lại nó, thì các Đức Giáo hoàng vẫn liên tục bị cáo buộc là phò chủ nghĩa xã hội, ra như việc kêu gọi tái phân phối cũng đồng nghĩa với việc huỷ bỏ hoàn toàn quyền sở hữu. Tuy nhiên, Đức Bênêđictô không ủng hộ điều gì khác hơn là giáo lý về quyền sở hữu được tán rộng mà chúng ta đã đề cập ngay từ đầu và đâm rễ trong chính Thông điệp Rerum Novarum. Vì để thuận tiện, nên chúng ta viện dẫn lại bản văn liên quan đến ý nghĩa đó ở đây, và chúng ta thấy Đức Lêô XIII cũng đồng tình với quan điểm của Đức Bênêđictô XVI:
“Vì thế, luật lệ nên ủng hộ quyền sở hữu, và chính sách của nó phải trợ giúp cho mọi người trở nên những chủ nhân bao nhiêu có thể.”[367]
“Chưa bao giờ chúng ta lại làm tổn thương nặng nề và đối xử tệ hại với ngôi nhà chung của chúng ta như trong suốt hai trăm năm qua.” Đức Giáo hoàng Phanxicô đã viết như thế trong Thông điệp Laudato Si’ của ngài. Và ngài không đơn độc. Năm 1971, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã phát biểu rằng: “Do khai thác thiên nhiên một cách thiếu cân nhắc mà nhân loại đi đến bờ nguy hiểm, đã phá huỷ thiên nhiên và lại trở thành nạn nhân của chính sự suy diệt đó.” Tiếp luồng tư tưởng ấy, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết:
“Mối tương quan giữa các cá nhân hay các cộng đồng với môi trường, về cơ bản, bắt nguồn từ mối tương quan giữa cá nhân hay cộng đồng với Thiên Chúa. Khi con người quay lưng với kế hoạch của Đấng tạo hoá, con người gây ra một sự rối loạn vốn có những tác động trở ngược không thể tránh khỏi cho trật tự thụ tạo.”[368]
Như chúng ta sẽ thấy dưới đây, con người có trách nhiệm chăm sóc trọn vẹn mọi thụ tạo của Thiên Chúa. Đây là điều đặc biệt quan trọng ngày nay, khi xem xét những hồi đáp mà Đức Phanxicô nhận được khi bàn tới đề tài ấy. Ví dụ, dường như có vài tác giả nghĩ (như vẫn thấy đối với những người chưa từng bỏ thời gian đọc chính các thông điệp) rằng, Thông điệp Laudato Si’ của Đức Phanxicô tượng trưng cho vài dự án liều lĩnh trong vai trò của Giáo Hội – một bước lệch lạc ra khỏi truyền thống.
Đối lại, Giáo lý nói rằng “công trình tạo dựng, được phát sinh do lòng tốt lành của Thiên Chúa, nên nó được dự phần vào sự tốt lành này… vì Thiên Chúa đã muốn công trình tạo dựng là như một món quà dành cho con người, như một gia sản được gửi gắm và uỷ thác cho con người.”[369] Nhờ công trình tạo dựng mà chúng ta tìm thấy sự sống, nhận ra những tiềm năng của mình, đi vào mối tương quan với người khác, và, nhờ chiêm ngắm công trình tạo dựng mà chúng ta hướng đến được với Thiên Chúa.[370]
Để trở về nguồn gốc vấn đề xuyên suốt giữa các triều đại Giáo hoàng trước đây với Đức Giáo hoàng Phanxicô, chúng ta sẽ dừng lại ở vị tiền nhiệm gần nhất – Đức Bênêđictô XVI, người đã nhắc đi nhắc lại mối bận tâm của Giáo Hội về vấn đề môi trường. Chúng tôi chỉ lấy ra một trong số những phát biểu của các vị Giáo hoàng trước về điểm này mà thôi:
“Giữ gìn môi trường, đẩy mạnh phát triển bền vững và chú trọng đặc biệt đến biến đổi khí hậu là những vấn đề liên quan trực tiếp đến toàn thể gia đình nhân loại.”[371]
“Trật tự của công trình sáng tạo đòi buộc phải dành ưu tiên cho các hoạt động không gây ra bất cứ thiệt hại vĩnh viễn nào cho thiên nhiên, nhưng thay vào đó, các hoạt động ấy phải được đan kết trong một kết cấu của các cộng đồng riêng biệt giữa xã hội, văn hoá và tôn giáo. Theo cách đó, cân bằng giữa việc tiêu thụ với khả năng đáp ứng các tài nguyên là một cân bằng đúng đắn.”[372]
“Cuộc khủng hoảng môi sinh là cơ hội lịch sử để đề ra một câu trả lời tập thể nhằm biến cải kiểu mẫu phát triển hoàn vũ theo chiều hướng tôn trọng hơn đối với thiên nhiên và phát triển con người toàn diện, theo giá trị của đức bác ái trong chân lý.”[373]
“Tất cả chúng ta có trách nhiệm bảo vệ và chăm sóc môi trường. Trách nhiệm này hiểu là không có biên giới. Theo nguyên tắc bổ trợ, điều quan trọng đối với mọi người là phải dấn thân trong mức độ của mình để lướt thắng chủ trương chỉ tìm những lợi ích tư riêng.”[374]
“Việc huỷ hoại thiên nhiên thì… liên quan mật thiết đến nền văn hoá vốn hình thành nên sự chung sống giữa loài người: khi ‘sinh thái học nhân bản’ được xã hội coi trọng, sinh thái học môi trường cũng được hưởng lợi ích.” “Địa cầu quả thực là một món quà vô giá của Đấng tạo hoá, và theo đúng trật tự trong bản thiết kế, Đấng ấy đã ban cho chúng ta các cách thức nhằm chỉ dẫn chúng ta quản lý công trình sáng tạo của Ngài. Đúng theo khuôn khổ đó, Giáo Hội cân nhắc các vấn đề liên quan đến môi trường và việc bảo vệ môi trường vốn nối kết chặt chẽ với chủ đề về phát triển toàn diện con người.”[375]
Nếu xem ra chúng tôi nhấn mạnh quá đáng về điểm này thì chỉ vì nó không được một vài người đón nhận; chúng tôi muốn cung cấp tài liệu dồi dào để các tín hữu sử dụng khi phải bảo vệ lập trường của Giáo Hội. Bạn đọc hiếu kỳ sẽ khỏi phải thắc mắc nhiều đến vấn đề này khi tìm hiểu qua các tài liệu mà Vatican online cung cấp.
Chúng ta nhận thấy có một sự đồng thuận giữa các vị Giáo hoàng, và Thông điệp Laudato Si’ của Đức Giáo hoàng Phanxicô là lời xác nhận mới nhất nhân danh Giáo Hội rằng, cuộc khủng hoảng môi trường là đề tài thực tế và chính đáng để bàn luận. Nó có thể không còn bị từ khước một vị trí chính đáng trong dự thảo chính trị, và thực tế nó đòi hỏi sự quan tâm của chúng ta nữa. Đức Phanxicô khởi đầu bài luận của mình bằng lời than vãn rằng, trái đất,
- “Cũng cần phải có sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong việc tạo ra những điều kiện sống vật chất mà nếu không có những điều kiện này sẽ không có được một xã hội trật tự… Để đạt được mục tiêu này, vốn là điều bị đòi buộc bởi các nhu cầu về sự thịnh vượng chung, các tầng lớp giàu có phải tham gia vào việc gánh vác những gánh nặng xã hội mà nếu không làm điều này, xã hội loài người sẽ vô phương cứu chữa, và chính họ, những người thuộc tầng lớp giàu có, cũng không thể được bảo đảm. Tuy nhiên, các chính sách của Nhà nước nhằm đạt được mục tiêu này phải là những chính sách thế nào đó có thể thực sự tác động đến những người trong thực tế đang sở hữu nhiều hơn những gì họ chia sẻ trong những nguồn tài chính, cũng như tác động đến những ai vẫn tiếp tục tích góp tài chính mà làm phương hại nghiêm trọng đến người khác.”[349]
- “Hệ thống thu thuế nên được tổ chức theo nguyên tắc luỹ tiến, để những người có nguồn tài chính tương đối lớn hơn thì trả một mức thuế cao hơn. Việc bao trọn nguyên lý này trong các chính sách thuế là một phương cách quan trọng để giảm tải các vấn đề bất cân xứng về thu nhập và giá trị tài sản trong đất nước. Cần phải ra tay giảm bớt hoặc điều chỉnh tình trạng sau, đó là hầu hết các loại thuế tiêu thụ và thuế theo số lương trả đặt một gánh nặng không cân xứng lên những người có nguồn thu nhập thấp.”[350]
- “Bao lâu những vấn đề về người nghèo chưa được giải quyết triệt để bằng cách loại bỏ quyền tự trị tuyệt đối của các thị trường cũng như quyền đầu cơ tài chính và nhờ việc đánh thẳng vào các căn nguyên trong cấu trúc gây ra bất bình đẳng, thì sẽ không bao giờ tìm thấy giải pháp nào cho những vấn đề của thế giới hoặc, cho vấn đề đói nghèo, hay bất cứ vấn đề nào khác. Bất bình đẳng là cội rễ của các bệnh hoạn trong xã hội.”[356]
- “Việc coi mình là trung tâm, loài người tội lỗi có khuynh hướng xác nhận chính mình và thoả mãn với ước vọng vô tận về những thứ như: tiền bạc, quyền lực và khoái lạc, khinh miệt kẻ khác, cướp bóc cách bất công và đối xử với họ như những đồ vật hoặc công cụ. Như vậy, con người đã góp phần tạo ra những cấu trúc bóc lột và nô lệ mà chính con người đã lên án.”[358]
- “Hoạt động kinh tế không thể nào giải quyết được mọi vấn đề xã hội qua việc áp dụng lô-gích thương mại cách đơn giản. Lô-gích này phải nhắm đến việc đạt được công ích, là điều mà cộng đồng chính trị phải có trách nhiệm cách đặc biệt. Vì thế, không được quên rằng, một trong những nguyên nhân tạo nên sự mất quân bình trầm trọng là tách rời hoạt động kinh tế – vốn được quan niệm chỉ là sự làm giàu – với hoạt động chính trị vốn được coi là phương thế phục vụ công bằng qua việc tái phân phối.”[364]
- “Vì thế, luật lệ nên ủng hộ quyền sở hữu, và chính sách của nó phải trợ giúp cho mọi người trở nên những chủ nhân bao nhiêu có thể.”[367]
- “Cũng cần phải có sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong việc tạo ra những điều kiện sống vật chất mà nếu không có những điều kiện này sẽ không có được một xã hội trật tự… Để đạt được mục tiêu này, vốn là điều bị đòi buộc bởi các nhu cầu về sự thịnh vượng chung, các tầng lớp giàu có phải tham gia vào việc gánh vác những gánh nặng xã hội mà nếu không làm điều này, xã hội loài người sẽ vô phương cứu chữa, và chính họ, những người thuộc tầng lớp giàu có, cũng không thể được bảo đảm. Tuy nhiên, các chính sách của Nhà nước nhằm đạt được mục tiêu này phải là những chính sách thế nào đó có thể thực sự tác động đến những người trong thực tế đang sở hữu nhiều hơn những gì họ chia sẻ trong những nguồn tài chính, cũng như tác động đến những ai vẫn tiếp tục tích góp tài chính mà làm phương hại nghiêm trọng đến người khác.”[349]
- “Hệ thống thu thuế nên được tổ chức theo nguyên tắc luỹ tiến, để những người có nguồn tài chính tương đối lớn hơn thì trả một mức thuế cao hơn. Việc bao trọn nguyên lý này trong các chính sách thuế là một phương cách quan trọng để giảm tải các vấn đề bất cân xứng về thu nhập và giá trị tài sản trong đất nước. Cần phải ra tay giảm bớt hoặc điều chỉnh tình trạng sau, đó là hầu hết các loại thuế tiêu thụ và thuế theo số lương trả đặt một gánh nặng không cân xứng lên những người có nguồn thu nhập thấp.”[350]
- “Bao lâu những vấn đề về người nghèo chưa được giải quyết triệt để bằng cách loại bỏ quyền tự trị tuyệt đối của các thị trường cũng như quyền đầu cơ tài chính và nhờ việc đánh thẳng vào các căn nguyên trong cấu trúc gây ra bất bình đẳng, thì sẽ không bao giờ tìm thấy giải pháp nào cho những vấn đề của thế giới hoặc, cho vấn đề đói nghèo, hay bất cứ vấn đề nào khác. Bất bình đẳng là cội rễ của các bệnh hoạn trong xã hội.”[356]
- “Việc coi mình là trung tâm, loài người tội lỗi có khuynh hướng xác nhận chính mình và thoả mãn với ước vọng vô tận về những thứ như: tiền bạc, quyền lực và khoái lạc, khinh miệt kẻ khác, cướp bóc cách bất công và đối xử với họ như những đồ vật hoặc công cụ. Như vậy, con người đã góp phần tạo ra những cấu trúc bóc lột và nô lệ mà chính con người đã lên án.”[358]
- “Hoạt động kinh tế không thể nào giải quyết được mọi vấn đề xã hội qua việc áp dụng lô-gích thương mại cách đơn giản. Lô-gích này phải nhắm đến việc đạt được công ích, là điều mà cộng đồng chính trị phải có trách nhiệm cách đặc biệt. Vì thế, không được quên rằng, một trong những nguyên nhân tạo nên sự mất quân bình trầm trọng là tách rời hoạt động kinh tế – vốn được quan niệm chỉ là sự làm giàu – với hoạt động chính trị vốn được coi là phương thế phục vụ công bằng qua việc tái phân phối.”[364]
- “Vì thế, luật lệ nên ủng hộ quyền sở hữu, và chính sách của nó phải trợ giúp cho mọi người trở nên những chủ nhân bao nhiêu có thể.”[367]