Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

Tranh luận đã nổi lên trong suốt lịch sử Giáo Hội – chúng ta không nên ngạc nhiên về điều này, vì như có lời chép rằng phải có nguyên nhân gây sa ngã[32] – và những cuộc tranh luận này đòi hỏi sự giải thích, đặc biệt là kể từ khi một số nhóm nào đó đã tận dụng những giây phút bất hòa này để chia rẽ đàn Chiên. Cuộc tranh luận gần đây nhất thuộc loại này liên can đến Công Đồng Vaticanô II. Vì cuộc tranh luận này, nên bất cứ nghiên cứu nào về GHXH mà cố gắng bỏ qua những bất đồng kéo theo sau Vaticanô II sẽ làm cho những độc giả của nó bối rối và thất vọng. Chúng tôi không mong muốn tình trạng bất an này xảy ra cho độc giả của mình, và vì thế, chúng tôi sẽ hòa giải cuộc tranh luận này mà không dừng lại với nó lâu hơn mức cần thiết. Chúng tôi sẽ chứng tỏ rằng: sự bất đồng về các vấn đề chỉ là bề ngoài, Truyền Thống của Giáo Hội vẫn nguyên vẹn, và độc giả không cần chọn lựa giữa Giáo Hội của ngày hôm qua và Giáo Hội của ngày mai, nhưng có thể được bình an trong Giáo Hội Vĩnh Cửu.

Phải thừa nhận rằng những cuộc tranh luận xung quanh Công Đồng Vaticanô II là mối đe dọa lớn nhất đối với sự hiệp nhất của Giáo hội Công giáo trong thế kỷ qua. Những người tham gia vào cuộc chiến này có khuynh hướng chọn một trong hai quan điểm; mà theo chúng tôi cả hai quan điểm trên đều hời hợt: hoặc Vaticanô II là một sự thỏa hiệp bất hợp pháp đối với lạc thuyết duy tân chủ nghĩa, và do đó, tất cả các Giáo hoàng sau Công đồng là “những ngụy Giáo hoàng” và là chính những kẻ lạc giáo;[33] hoặc Công đồng đã đưa ra một “sự thay đổi” của Giáo Hội theo những đường lối hiện đại, mà mãi đến lúc ấy, nó đã bị chống đối một cách ngoan cố và sai lầm.

Cả hai quan điểm này có cùng một điểm chung, đó là một thái độ bi quan đối với Giáo Hội như một cơ quan có thẩm quyền. Cả hai tin rằng Vaticanô II tượng trưng cho sự từ khước đối với những giáo huấn trước đây của Giáo Hội. Chúng chỉ khác nhau ở chỗ, đó là liệu sự thay đổi này là tốt hay xấu mà thôi.

Hơn nữa, cả hai quan điểm này thúc đẩy sự chia rẽ. Quan điểm thứ nhất yêu cầu tín hữu chống lại Giáo Hội theo cách ngày nay người ta nhận thức, trong khi quan điểm thứ hai yêu cầu tín hữu đứng về phía Giáo Hội theo cách Giáo Hội đã tồn tại trong một ngàn năm trước. Đó là lý do tại sao, chúng ta chẳng nên quan tâm đến cuộc tranh luận này, mặc dù chúng ta có thể tìm thấy những bậc đáng kính ở phía bên này, hay phía bên kia của cuộc tranh luận. Sau đây, chúng tôi sẽ cố gắng dẫn dắt độc giả tránh qua tình trạng lộn xộn này để có thể tránh những cạm bẫy không cần thiết như thế.

  1. Một ví dụ từ Tuyên ngôn Dignitatis Humanae

Khi nói đến những cuộc tranh luận phức tạp như thế, thật là hữu ích để chúng ta lấy ra một chi tiết trong cuộc tranh luận này để tóm tắt nó; và khi đó, bằng việc phân tích sai lầm này, chúng ta có thể đạt đến một sự hiểu biết trọn vẹn về bản chất của vấn đề.

Theo kinh nghiệm của tôi, vấn đề gây tranh cãi nhất từ Công đồng là Tuyên ngôn về tự do tôn giáo, Tuyên ngôn Dignitatis Humanae (bàn về “Phẩm giá của Con Người”). Khi so sánh với cuộc tranh luận mà Công đồng đã khơi lên, tuyên ngôn này là một tài liệu ngắn đáng kinh ngạc, và có giới hạn trong phạm vi của mình (điều này gợi ý rằng cần phải đọc tuyên ngôn này theo một cách thức nào đó). Cội nguồn của sự bất đồng này phụ thuộc vào câu hỏi, liệu tuyên ngôn này có đảo lộn những giáo huấn trước đây về việc thờ phượng Thiên Chúa, cách riêng, về mối quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo hay không. Ví dụ, tuyên ngôn này tuyệt đối ngăn cấm Nhà nước ép buộc công dân trong việc tuyên xưng một tín điều cụ thể nào đó. Đồng thời, bản tuyên ngôn này ủng hộ giáo huấn cao cả sau: chỉ có lương tâm tự do mới có thể đưa ra một lời tuyên xưng chân thật về đức tin.[34] Không được phép thúc bách công dân tin nhận một niềm tin trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Chỉ mới nhìn thoáng qua, điều này thể hiện một sự thay đổi trong thái độ từ quan điểm mà trước đây Giáo Hội vẫn giữ vững, đó là luôn luôn đòi hỏi một lời tuyên xưng công khai về vương quyền của Đức Kitô trong xã hội – cách riêng qua tiếng nói của Đức Lêô XIII.

Chúng ta sẽ trở lại vấn đề của Giáo Hội và Nhà nước theo một quan điểm thích hợp trong nghiên cứu của chúng ta,[35] nhưng giờ đây sẽ là đủ khi trích dẫn một phần trong tuyên ngôn Dignitatis Humanae, những điều vốn rất thường bị xem nhẹ, nhưng điều đó hướng chúng ta về phía của sự thông hiểu, như mục đích của Công đồng:

“Quyền tự do tôn giáo… liên quan tới sự miễn trừ khỏi mọi áp chế trong xã hội dân sự, vì thế quyền tự do đó hoàn toàn phù hợp với giáo lý truyền thống công giáo, về bổn phận luân lý của các cá nhân cũng như của những đoàn thể xã hội đối với tôn giáo chân thật là Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô.”[36]

Giờ đây, khi tiếp nhận những gì mà chúng ta đã nói trên đây liên quan đến mối quan hệ giữa Giáo Hội và Nhà nước,[37] và nếu chúng ta cũng thừa nhận rằng tuyên ngôn Dignitatis Humanae chứa đựng những tuyên bố mà dường như đối nghịch với “giáo lý Công giáo truyền thống,” thì chúng ta phải chọn giữa ba cách thế khả thi trong việc giải quyết tình huống này:

  1. Chúng ta có thể lờ đi trích dẫn trên đây, coi cái có vẻ từ bỏ như là thực sự từ bỏ, đứng về phía ủng hộ truyền thống, từ bỏ tài liệu này, Công đồng, tất cả những vị Giáo hoàng sau Công đồng, và từ đó tách biệt chính chúng ta ra khỏi Giáo Hội như Giáo Hội hiện hữu ngày nay. Chọn lựa này phù hợp với những người được gọi là “những người theo chủ thuyết trống tòa.”
  2. Chúng ta có thể lờ đi trích dẫn trên đây, coi cái có vẻ từ bỏ như là thực sự từ bỏ truyền thống, đứng về phía chống lại truyền thống, từ đó tự mình tách biệt ra khỏi hai ngàn năm giáo huấn của Giáo Hội. Đây là quan điểm của những phần tử tự do hay thuộc “người theo trào lưu duy tân” của Giáo Hội.
  3. Chúng ta có thể tiếp nhận trích dẫn trên đây hoàn toàn, thật ích lợi khi trao quyền hoài nghi chính đáng vốn thuộc về Huấn quyền, khi giả định rằng nó sẽ không quá hiển nhiên mâu thuẫn với chính mình. Khi đó, tự chúng ta có thể bắt tay ngay vào nhiệm vụ hòa giải điều có vẻ mâu thuẫn giữa Tuyên ngôn Dignitatis Humanae và cách hiểu truyền thống về tự do tôn giáo, chẳng hạn cách hiểu mà Đức Lêô XIII đã dạy trong Thông điệp Immortale Dei Thông điệp Libertas. (Cả hai thông điệp của Đức Lêô XIII đều được trích dẫn trong Tuyên ngôn Dignitatis Humanae). Ví dụ, chúng ta có thể thừa nhận rằng một Nhà nước có thể bị cấm thúc ép niềm tin, nhưng đồng thời có nghĩa vụ bó buộc phải thừa nhận Đức Kitô là Vua.

Chúng tôi sẽ tiếp nhận cách tiếp cận thứ ba xuyên suốt nghiên cứu này. Còn những cách thức tiếp cận khác đều làm cho cuộc nghiên cứu này trở nên một nỗ lực lãng phí. Làm thế nào để sự hòa giải một điều xem ra mâu thuẫn thì sẽ được giải quyết rõ ràng trong những phần tiếp theo, cách riêng trong Phần VI, mục 4.

  1. Giáo huấn Xã hội Công giáo, các hệ thống, và các hệ tư tưởng

Vì nhu cầu phải thường xuyên tái giải thích và tái áp dụng các nguyên tắc về giáo huấn xã hội của Giáo Hội, vốn tự thân không thay đổi, hẳn nhiên rằng Giáo Hội sẽ không bao giờ trình bày một “hệ thống” kinh tế đặc biệt hay một “chương trình” chính trị nào đó theo bất kỳ loại hình nào.[38] Các ứng dụng kỹ thuật thì không, và không thể là phạm vi của giáo huấn về xã hội, vì chúng phải được xây dựng và bổ túc theo những hoàn cảnh riêng biệt của từng cảnh huống lịch sử, địa lý, và văn hóa. Các giải pháp kỹ thuật có thể có các hiệu quả cho một nhóm xã hội hay vùng địa lý nhưng lại tỏ ra không phù hợp các vùng khác, và vì thế thật là vô ích nếu Giáo Hội cố gắng và đưa ra một giải pháp “khuôn mẫu” và đòi hỏi rằng giải pháp của Giáo Hội được áp dụng cách máy móc cho mọi dân tộc thuộc mọi thời đại. Một giải pháp như thế là một mối đe dọa của việc suy tư có tính ý thức hệ, mà Giáo Hội luôn luôn tránh. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng, vì Giáo Hội ở trên ý thức hệ và các hệ thống đặc biệt, Giáo Hội vẫn giữ lại khả năng phán quyết về sự phù hợp của các hệ thống này, với các đòi hỏi về nguyên lý của Giáo Hội. Điều này có nghĩa là khi Giáo Hội lên án chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, thì Giáo Hội vẫn ở trong phạm vi quyền hạn của mình; và Giáo Hội có thể tố cáo những hệ thống phi luật pháp này mà không buộc phải đưa ra một “hệ thống” khác thay thế. Việc biện phân nêu ra các nguyên tắc thì thuộc phạm vi của Giáo Hội. Điều mà Giáo Hội đòi hỏi và đề nghị là “một định hướng cần thiết và lý tưởng,”[39] mà Giáo Hội mời gọi các giáo dân đem ra thực hành trong phạm vi năng lực riêng của mỗi người theo ơn gọi của mình.

  1. Thẩm quyền của Giáo huấn

Quả thật rất hữu ích khi đề cập điều này là, khi đụng đến những tác phẩm như tác phẩm mà bạn đang có trong tay đây, cũng như khi xem xét các tài liệu chính thức như sách Tóm lược Giáo lý, những trích dẫn được sử dụng sẽ khác nhau theo cấp bậc về thẩm quyền. Có những bài diễn văn của Giáo hoàng, các thông điệp và các tài liệu của Công đồng, cũng như công trình đặc biệt này được xuất bản bởi các Hội đồng Giám mục chẳng hạn USCCB. Thậm chí trong các tài liệu của Công đồng cũng có nhiều cấp độ thẩm quyền khác nhau giữa các Hiến chế, các Tuyên ngôn, và các Sắc lệnh.[40]

Mặc dù có thể nói thêm về sự liên hệ ràng buộc của mỗi loại tài liệu, phân tích cấp độ bó buộc các tín hữu, nhưng chúng tôi chọn không đi sâu vào chủ đề này ở đây. Lý do là vì cách tiếp cận này có thể được tìm thấy trong những điều kiện xã hội phổ biến trong thời đại của chúng ta. Chúng tôi đã gợi ý về những điều kiện này phía trên đây. Bên trong những chế độ tự do –  dân chủ hiện đại như Hoa Kỳ, não trạng xã hội có khuynh hướng bị ám ảnh với việc giải thoát khỏi thẩm quyền tôn giáo, hơn là với nghĩa vụ hướng về nó. Kết quả là những việc nại đến thẩm quyền tôn giáo, dẫu có hợp pháp hay không, đều không có tác dụng nào trên các độc giả đương thời. Các thính giả theo bản năng chống lại bất cứ điều gì ràng buộc lương tâm mà không cho họ quyền tự chọn lựa. Nguyên tắc của tính dễ bảo, hoặc những đề nghị rằng một người có thể tiếp nhận một thái độ quy phục mà vẫn bảo toàn phẩm giá của mình, thì nguyên tắc ấy không được chấp nhận trong các nền văn hóa, nơi mà mỗi người được đảm bảo, từ khi sinh ra tới lúc chết đi, rằng không có thẩm quyền nào cao hơn lý trí hoặc sở thích riêng, và rằng người ta không phải vâng phục ai cả. Vì lẽ đó, chúng tôi nghĩ rằng trong quyển sách này không nên xét đến tính chất bó buộc của vài văn kiện, bắt nguồn từ chính các giáo huấn với niềm hi vọng rằng, dù chúng tôi sẽ không cố gắng chứng minh những cấp độ thẩm quyền khác nhau nơi mỗi giáo huấn, nhưng độc giả nào lưu tâm đến các giáo huấn sẽ tự mình khám phá ra vấn đề này.

Hơn thế nữa, khi công khai tránh mô hình vụ luật của điều buộc hoặc không buộc tin, chúng tôi có thể phác thảo toàn bộ giáo huấn xã hội một cách toàn diện hơn, bởi vì phần lớn giáo huấn không phải là việc trình bày điều mà Giáo Hội truyền, nhưng, như chúng tôi đã nói ở trên, là việc chỉ ra lý tưởng cao thượng mà Giáo Hội hy vọng, và rồi sau đó, chúng ta sẽ nỗ lực cố gắng sống như những người yêu mến của Đức Kitô.

 

 

PHẦN II. CHÂN LÝ VỀ CON NGƯỜI

  1. Bản chất xã hội của con người

Chúng tôi đã nói rằng, con người không phải là xác mà cũng không phải là hồn, nhưng là xác-và-hồn cùng một lúc. Giờ đây chúng ta phải thêm một chân lý khác. Trong khi chân lý đầu tiên đối nghịch với khuynh hướng chủ nghĩa duy vật đương thời, thì chân lý thứ hai này lại bay lượn trên bề mặt của chủ nghĩa cá nhân đang lan rộng trong thời đại chúng ta: “Thiên Chúa không tạo ra con người như một ‘hữu thể cô độc’ nhưng mong ước con người là một ‘hữu thể xã hội.’ Vì lẽ đó, đời sống xã hội không phải là điều gì đó bên ngoài con người: con người chỉ có thể lớn lên và nhận ra ơn gọi của mình trong mối tương quan với tha nhân.”[41] Cá vị con người được mời gọi từ lúc khởi đầu để hướng về một đời sống xã hội: “Con người ở một mình thì không tốt.”[42]

Được tạo nên theo hình ảnh và tương tự với Thiên Chúa Ba Ngôi, con người cách tự nhiên cũng giống và khác biệt với các thụ tạo khác trong khía cạnh này. Giáo Hội liên tục loan báo chân lý này về con người, và toàn bộ GHXH cũng bao hàm điều đó.[43] Thậm chí trong các vấn đề giải quyết về mối quan hệ kinh tế thuần túy, nhu cầu hiệp thông vẫn giữ vị trí trung tâm. Như Đức Bênêđictô XVI đã nói:

“Một trong những hình thức nghèo đói nhất mà con người có thể cảm nghiệm, đó là sự cô lập. Nếu nhìn kỹ lại những hình thức khác của nghèo đói, gồm cả đói nghèo vật chất, thì ta thấy rằng tất cả đều bắt nguồn từ tình trạng bị bỏ rơi, không được yêu thương hoặc từ những khó khăn khi thể hiện khả năng yêu thương.”[44]
  1. Quan điểm của Thánh Tôma Aquinô về bản chất xã hội của con người

Trong tác phẩm De Regno của mình, Thánh Tôma cung cấp những luận điểm khác nhau cho quan điểm này, vốn đáng được liệt kê ra đây vì theo sự mạch lạc và dễ hiểu của nó.

  1. Cách thể lý, con người không phù hợp với việc tồn tài đơn độc. “Đối với tất cả các loài vật khác, bản tính thiên nhiên đã chuẩn bị thức ăn, lông để che thân thể, răng, sừng, vuốt như những công cụ phòng vệ hay ít nhất là công cụ tăng tốc khi bay, trong khi đó chỉ mình con người được tạo thành mà không có bất kỳ những cung cấp tự nhiên nào cho những thứ này. Thay vào đó, con người được phú ban lý trí. Và bằng việc sử dụng lý trí, con người có thể tìm thấy những thứ đó cho mình bằng việc lao động chân tay. Bây giờ, chỉ một mình, con người không thể tự kiếm ra tất cả cho mình, vì một người thì không đủ để kiếm sống mà không có sự trợ giúp. Vì thế, theo bản tính thiên nhiên, con người phải sống trong một cộng đồng nhiều cá thể.”[45]
  2. Con người không đủ những bản năng có nơi loài thụ tạo khác.
“Tất cả những loài thú khác, do kỹ năng bẩm sinh, có thể nhận thấy điều gì tốt và điều gì hại, thậm chí như con cừu cũng biết sói là kẻ thù của mình. Vài loài thú, với kỹ năng tự nhiên, cũng có thể nhận biết nhiều loài thảo mộc chữa bệnh và những thứ khác cần thiết cho đời sống của chúng. Trái lại, con người có một trí năng tự nhiên về các sự vật vốn thiết yếu cho đời sống chỉ trong một khuôn khổ tổng quát, bởi vì con người có thể đạt được tri thức về những thứ đặc thù cần thiết cho đời sống bằng việc suy luận từ các nguyên lý tự nhiên. Thế nhưng con người không thể tự mình có được tri thức về những thứ này bằng lý trí riêng của mình. Vì thế, con người cần phải sống trong một đám đông để mỗi cá thể có thể hỗ trợ người khác, và những người khác nhau có thể chiếm giữ được những tri thức khác nhau trong việc tìm kiếm, bằng lý trí của mình, để thực hiện những khám phá khác nhau – ví dụ,  người này trong lĩnh vực y dược, người kia thì thuộc lĩnh vực khác.”[46]

iii. Nhờ khả năng nói, con người được tạo thành để liên lạc với nhau.

“… Việc sử dụng lời nói là một đặc quyền dành riêng cho con người. Bằng khả năng này, một người có thể diễn tả cách đầy đủ những quan điểm của mình cho người khác. Thật vậy, những loài vật khác diễn đạt cảm xúc của chúng cho nhau theo một cách thức chung, chẳng hạn một con chó diễn đạt cơn giận bằng việc sủa, còn những loài khác thì diễn tả những cảm xúc khác theo nhiều cách thức khác nhau. Thế nhưng, con người liên lạc với giống loài của mình cách trọn vẹn hơn bất kỳ loài nào khác được biết đến là cũng sống thành bầy đàn, chẳng hạn loài sếu, kiến hay ong. Nghiệm thấy điều này, vua Salômôn đã nói: ‘Hai thì tốt hơn một; vì chúng tiến bộ là nhờ có nhau.’”[47]
  1. Sự đồng thuận của người ngoại giáo

Chân lý này cũng được thế giới dân ngoại chấp nhận. Aristotle đã tuyên bố rằng: “con người tự bản chất là một loài vật sống cộng đồng,” đây là câu mà ông nói theo Homer, người đã nói rằng, ai sống ngoài cộng đồng thì không phải vì người ấy hành động theo bản tính con người, nhưng vì người ấy hoặc ở trên, hoặc ở dưới nhân loại. Người ấy hoặc là một kẻ khổ hạnh hoặc là một tên côn đồ – và dĩ nhiên, cả hai nghĩa này là những ngoại lệ nhằm giúp chứng minh cho nguyên tắc trên đây.[48]

  1. Thời đại Khai Sáng và “khế ước xã hội”

Điều đã nói trên đây để lại một chỗ nhỏ bé cho thứ não trạng được gọi là “chủ nghĩa tự do,” hiểu con người là một “loài hoang dã cao quý,” gia nhập xã hội như một sự dữ thiết yếu hơn là một sự thiện tự nhiên. Dù xem ra là hoàn toàn bình thường trong ngày hôm nay, thế nhưng quan điểm này mới xuất hiện và thực sự nó là sản phẩm của chủ nghĩa nhân văn thuộc về thời đại Khai Sáng. Chỉ trong giai đoạn này, quan điểm này trở thành một học thuyết trung tâm, và cuối cùng, mở ra một trường phái tư tưởng được biết đến với tên gọi là chủ nghĩa Tự do. Nếu khảo sát lịch sử nhân loại cách chung với một tầm nhìn rộng lớn hơn, chúng ta sẽ nhận thấy rằng quan điểm phản xã hội này chỉ là thiểu số. Nếu khảo sát lịch sử Kitô giáo cách đặc biệt, chúng ta sẽ nhận thấy là hoàn toàn không có tư tưởng đó.

  1. Sự phát triển cá nhân

Chúng ta được cảnh báo là đừng bao giờ đánh mất cái nhìn về mối tương thuộc giữa người với người. “Có lẽ không bao giờ được nghĩ rằng con người là một hữu thể cá biệt hoàn toàn, được dựng nên do mình và cho mình.”[49] Nếu phải xem xét sự tăng trưởng và thành tựu của cá nhân cách tròn đầy, chúng ta phải có thể thừa nhận vai trò trách nhiệm cá nhân trong sự thăng tiến của cá thể, trong khi cùng lúc phải tính đến nhu cầu sống cộng đoàn sâu thẳm của chúng ta nữa. Đức Bênêđictô XVI đã tỉ mỉ chỉ ra điều nghịch lý này:

“Tự bản chất, nhân vị tham gia cách tích cực vào sự phát triển chính mình… vì như mọi người đều biết, tất cả chúng ta đều có thể có những chọn lựa tự do và có trách nhiệm. Phát triển cũng không chỉ tùy thuộc vào tính khí thất thường của chúng ta, vì tất cả chúng ta đều biết rằng mình là một quà tặng chứ không phải là cái gì tự sinh. Tự do của ta được định hình cách sâu xa bởi chính hữu thể và bởi cả những giới hạn của mình. Không ai định hình lương tâm của mình cách độc đoán nhưng tất cả chúng ta đều xây dựng cái “tôi” trên nền tảng cái “ngã” (nhân tính) đã được ban cho ta. Không chỉ những người ở bên ngoài không thể kiểm soát chúng ta, mà chúng ta cũng không thể hoàn toàn kiểm soát chính mình. Sự phát triển của một con người sẽ bất thành, nếu người đó cho rằng mình là tác giả duy nhất của sự phát triển.”[50]
  1. Tội xã hội

Mặc dù GHXH không dành nhiều thời gian để phát triển một khái niệm thần học về tội lỗi, thế nhưng cần phải để ý đến chủ thể của tội lỗi như phần liên quan đến chủ đề này. Điều này có nghĩa là GHXH không chỉ thừa nhận chiều kích cá nhân của tội, mà còn thừa nhận chiều kích xã hội của nó nữa. GHXH chủ trương rằng “tội nào cũng là tội xã hội, xét rằng nó cũng gây ra những hậu quả trong xã hội.”[51] Tuy tội là hậu quả của một hành vi cá nhân thuộc ý chí tự do của một người, nhưng do hiệu lực của tính liên đới giữa người với người mà tội của một cá nhân cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tha nhân. Đây không phải là một nỗ lực nhằm xóa bỏ trách nhiệm của riêng tội nhân, nhưng đúng hơn, như đã nói ở trên, là một suy xét về tội dưới chiều kích liên cá nhân, bổ túc cho chiều kích cá nhân của nó.

  1. Luật suy thoái – Luật thăng tiến

Để phát biểu những điều tương tự bằng những ngôn từ mà Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã sử dụng, chúng ta có thể nói rằng: như một hậu quả thuộc chiều kích xã hội của tội, điều thích hợp để nói về “luật suy thoái” là một loại hình “thông hiệp tội lỗi,” mà qua đó mỗi linh hồn tội lỗi lôi kéo cả Giáo Hội đi xuống theo nó. Ở khía cạnh tươi sáng, điều này cũng bao hàm một “luật thăng tiến” tương ứng vốn vận hành nhờ hiệu lực của mầu nhiệm “thông hiệp các thánh,” và vì thế có thể nói rằng “mỗi linh hồn vươn lên cao thì cũng nâng cả thế giới lên.”[52]

Nội dung trang này
<123 4 56 ... 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!