Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

“Môi trường này được Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người. Đối với chúng ta, việc sử dụng môi trường đặt chúng ta trước một trách nhiệm đối với người nghèo, với thế hệ tương lai và toàn thể nhân loại… Những trách nhiệm của chúng ta đối với môi trường liên kết với các trách nhiệm mà chúng ta phải có đối với con người tự tại và trong liên hệ với những kẻ khác. Người ta không thể đòi hỏi một số nghĩa vụ đang khi giẫm đạp lên các thứ nghĩa vụ khác.”[420]

  1. Sinh thái nhân bản

Sự song song giữa thái độ của chúng ta đối với thiên nhiên và điều mà chúng ta biểu lộ đối với chính chúng ta xét như những con người đã được các Giáo hoàng nói đến như một hệ sinh thái nhân bản.

“Việc huỷ hoại thiên nhiên thì… liên quan mật thiết đến nền văn hoá vốn hình thành nên sự chung sống giữa con người: khi ‘sinh thái nhân bản’ được xã hội coi trọng, sinh thái môi trường cũng được hưởng lợi.”[421]

Khi dùng cụm từ trên, các Giáo hoàng có ý muốn minh hoạ rằng, các tiến trình và sự thịnh vượng của loài người sẽ được thúc đẩy nhờ sự tôn trọng những tiến trình và sự thịnh vượng của thiên nhiên. Nếu chúng ta thiếu quan tâm đến cái này thì vô tình chúng ta cũng sẽ khinh miệt cái kia:

“Nếu như có một sự thiếu tôn trọng nào đó đến quyền được sống và quyền có một cái chết tự nhiên, nếu việc thụ thai, mang thai và sinh con của con người đều do nhân tạo, nếu phôi thai của con người bị hy sinh để nghiên cứu, thì đạo đức của xã hội đưa đến việc đánh mất đi khái niệm hệ sinh thái nhân bản và, cùng với điều đó, đánh mất luôn khái niệm hệ sinh thái môi trường. Thật là mâu thuẫn khi khăng khăng cho rằng, các thế hệ tương lai sẽ tôn trọng môi trường tự nhiên khi mà những hệ thống giáo dục và luật pháp của chúng ta lại không giúp gì để chúng tôn trọng chính chúng. Quyển sách thiên nhiên là một và không thể chia tách ra được: trong đó không chỉ là môi trường nhưng còn là sự sống, tính dục, hôn nhân, gia đình, các mối tương quan xã hội: tắt một lời, sự phát triển nhân loại cách trọn vẹn.”[422]

Việc dạy trẻ những quy tắc đạo đức chẳng hạn như kế hoạch hoá gia đình theo tự nhiên, và tiếp theo đó lại cho thấy việc thiếu quan tâm tuyệt đối đến thế giới xung quanh, vốn nói cho biết về các quy tắc đó, là huỷ hoại đi chính bài học bởi đã phân tách kết luận ra khỏi chứng cớ hợp lý của quy tắc đó. Làm sao mà lời khuyên tuân theo luật tự nhiên được nghiêm túc đón nhận khi mà người giảng dạy về các quy tắc lại không bận tâm đến chính thiên nhiên?

  1. Kiểm soát dân số không là đáp án

Đối với xã hội không đón nhận đời sống con người thì không thể nào biết tôn trọng các hình thức sống khác trên hành tinh này. Bên này không cần phải hy sinh cho bên kia, nhưng cả hai phải được tôn trọng theo vị thế phù hợp với họ. Những ai đề xuất các giải pháp kiểm soát việc sinh sản hay phá thai như những phương tiện đúng đắn để giải quyết cuộc khủng hoảng môi trường đều đang chọn con đường dễ dãi và làm giảm giá trị đời sống con người.[423] Giải pháp như vậy chỉ cố gắng khắc phục vấn đề mà không cần kỷ luật và không phải thay đổi quá nhiều lối sống của họ. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc phủ nhận đi các nguyên nhân thực sự, vốn nằm ở chỗ khác: “Kết án việc gia tăng dân số mà lại không đụng đến việc tiêu thụ quá mức của một thiểu số người là một cách để tránh né vấn đề.”[424]

  1. Thiếu quan tâm đến thiên nhiên sẽ dấn tới một phản ứng ngược lại (hậu quả)

Không phải là họa hiếm khi vẫy tay gạt bỏ đi mọi lời cảnh báo trên, thay vào đó là tin tưởng ở tài khéo của con người, tin rằng con người vẫn tiếp tục thích nghi, phát triển và “chinh phục” bất kể vấn đề nào xảy đến ở tương lai. Niềm tin tưởng tuyệt đối như thế nằm trong ý thức hệ về “sự phát triển tất yếu,” mà chung qui chỉ là niềm tin vào con người và phủ nhận đi những giới hạn. Nhưng Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đưa ra một khuyến cáo:

“Thay vì mang lấy vai trò của mình như cộng tác viên với Thiên Chúa trong việc sáng tạo, con người lại đặt chính mình vào vị trí của Thiên Chúa, và vì vậy dẫn đến việc thúc đẩy một sự nổi loạn của thiên nhiên, vốn tàn bạo hơn là khi được con người cai trị.”[425]

Và Đức Bênêđictô XVI đã xác nhận điều này: “Mối tương quan giữa các cá nhân hay các cộng đồng với môi trường, về cơ bản, bắt nguồn từ mối tương quan giữa cá nhân hay cộng đồng với Thiên Chúa. Khi con người quay lưng với kế hoạch của Đấng tạo hoá, con người gây ra một sự rối loạn vốn có những tác động trở ngược không thể tránh khỏi cho trật tự thụ tạo.”[426]

 

 

 

PHẦN VIII. CHIẾN TRANH

Giáo Hội dạy rằng: “Bao lâu con người còn mang tính tội lỗi, hiểm họa chiến tranh còn đe dọa và vẫn sẽ đe dọa cho tới khi Chúa Kitô trở lại.”[427]

Vì sự thật đó mà chúng ta không bao giờ được quên rằng có “các điều kiện tỉ mỉ cho việc tự vệ hợp pháp bằng sức mạnh quân sự.”[428] Những điều kiện đó, được biết đến như “quy tắc chiến tranh chính đáng,” mang đến những chính quyền và người dân với một phương thức chặt chẽ để đánh giá tính hiệu lực của hành động quân sự trong bất cứ xung đột nào. Phương thức như thế là chuyện sống còn của bất cứ chính quyền nào, cụ thể là trong các chế độ dân chủ, bởi vì nếu thiếu các tiêu chuẩn khách quan trong việc quyết định sử dụng hành vi vũ trang, khi đó các yếu tố cảm xúc và cơ hội sẽ lên nắm quyền thống trị cao nhất. Không biết đến các nguyên lý đó chắc chắn đưa đến những hành động tàn bạo, và nước Mỹ, vốn ít quan tâm đến triết lý Kitô giáo, cũng không là luật trừ. Nó xâm phạm cách kinh khủng nhất đến quy tắc chiến tranh chính đáng trong suốt cuộc nội chiến, đệ nhất và đệ nhị thế chiến, ví dụ như việc ném bom lửa ở Dresden và bom hạt nhân ở Hiroshima và Nagasaki. Tuy nhiên ở những khía cạnh khác, chúng ta sẽ thấy rằng nước Mỹ đã cư xử với một sự cao thượng đặc biệt, đồng thời cũng trung thành ủng hộ một vài yếu tố trong giáo huấn của Giáo Hội – chẳng hạn trong cách đối xử với các tù nhân và những người không phải là chiến binh. Tuy nhiên, rủi thay, vì đạo lý đó không được biết đến cách rộng rãi, nên nó chỉ được sử dụng lung tung và vô ý thức, và chúng ta không có cách nào để biết được mai ngày nó có thay đổi hay không.

Các nguyên tắc này được tổng hợp trong sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, từ số 2302-2317, dù đã được hình thành từ thời thánh Âutinh (354-430), và được tiếp nối bởi việc khẳng định và khai triển thêm của Thánh Tôma Aquinô (1225-1274) cũng như các nhà thần học sau này mỗi khi xảy ra các biến cố. Đề tài này thuộc vào số những đề tài quan trọng đặc biệt trong thời đại của chúng ta do thách thức của chủ nghĩa khủng bố, vốn đã tiếp thêm nhiên liệu cho các cuộc tranh luận mới cũng như những vấn đề liên quan đến bản chất của việc phòng vệ hợp pháp. Rất thường xuyên chúng ta vội vàng chống lại giả định rằng, vì các vấn đề thời nay đều mới mẻ, cho nên không thể giải quyết bằng các nguyên tắc truyền thống, thế nhưng đó là ưu điểm của các nguyên tắc – nó phổ quát, được áp dụng cho bất cứ thời đại nào, và chỉ cần được vận dụng lại tuỳ theo các hoàn cảnh thay đổi. Chúng ta sẽ nhận thấy rằng điều đó đúng với quy tắc chiến tranh chính đáng và chiến tranh chống khủng bố.

  1. Jus ad bellum, “quyền lâm chiến”

Trước tiên chúng ta phải phân biệt giữa quyết định sử dụng biện pháp chiến tranh và thái độ phù hợp trong suốt chiến tranh. Đó là bởi vì tình trạng chiến tranh khác với tình trạnh hoà bình, và đánh giá mỗi hành động giữa mặt trận như việc chúng ta đánh giá một hành động trong thời bình thật là không thích hợp. Nguyên lý dẫn đến quyết định dùng biện pháp chiến tranh được liệt vào mục được biết đến dưới cái tên jus ad bellum hay “quyền lâm chiến”

  1. So sánh “tức giận chính đáng” với “phẫn nộ”

Tức giận là một sự đáp trả hợp pháp đối với sự bất công, chẳng hạn như việc Thiên Chúa bộc lộ tức giận đối với những kẻ đổi tiền ở Đền thờ, sự tức giận đó đi xa đến nỗi Ngài dùng roi đánh họ và đuổi họ ra khỏi Đền thờ. Chúng ta gọi đó là sự tức giận chính đáng, nhưng trước khi chúng ta sử dụng nó thì chúng ta cần phải hiểu tại sao nó lại là sự tức giận chính đáng biểu hiện qua hành động chính đáng, mà không phải là sự phẫn nộ biểu hiện qua bạo lực trái phép.

Trước tiên, tức giận là một cảm xúc mãnh liệt phát ra khi chúng ta phản ứng trước điều xấu và mong ước tìm lại công bằng. Xét dưới khía cạnh cảm xúc, tức giận tự thân không mang tính luân lý hay xấu xa, trái đạo lý, nhưng nó trở thành có đạo đức hay vô đạo đức tuỳ thuộc vào việc nó có được ra lệnh cách hợp lý và được cảm nhận trong mức độ cho phép hay không. Nếu như tức giận sai đối tượng hay mức độ tức giận nhiều hơn hay ít hơn mức cho phép thì sự tức giận đó trở thành điều xấu. Chúng ta phải nhấn mạnh ở đây rằng thiếu đi sự tức giận đối với điều bất công là một điều xấu của “sự yếu nhược,” giống như tức giận quá mức là một điều xấu của “sự quá trớn.” Quay lại ví dụ Chúa Giêsu trong đền thờ, chúng ta có thể nói rằng, nếu ai đấy trong tình huống đó đi xa hơn cách hành xử của Chúa Giêsu hay là bỏ mặc không làm gì cả, thì anh ta sẽ rơi vào một trong hai điều xấu. Sự tức giận sẽ khuyến khích chúng ta lấy lại trạng thái quân bình mà chúng ta đánh mất – trạng thái quân bình công lý.

Mặc dù chúng ta đã đề cập ngay từ đầu về sự tức giận xét như một cảm xúc, nhưng chúng ta cũng phải luôn luôn nối kết cảm xúc tức giận đó với biểu hiện tức giận thông qua hành động: cả hai (cảm xúc và biểu hiện) khác biệt nhau, xét dưới khía cạnh nội tại và ngoại tại, và một người có thể đúng ở điều này nhưng lại sai ở điều kia. Anh ta có thể cảm nhận được mức độ tức giận hợp lý và tức giận với đúng đối tượng, thế nhưng các hành động của anh ấy có thể vụng về hoặc quá đáng trong cách thể hiện.

Trong bất cứ việc xem xét nào về hành xử phải dùng vũ trang chúng ta phải phân tích các cảm xúc của chúng ta và đảm bảo rằng chúng ta không bị đưa đẩy bởi một cảm xúc quá đáng, hoặc bị làm cho suy nhược bởi cảm xúc yếu kém, và sự tức giận đó của chúng ta nhắm vào đúng đối tượng.

  1. Các điều kiện nghiêm ngặt

Chúng ta có thể liệt kê ra đây những điều kiện, theo như sách Giáo lý cho biết, cho việc sử dụng hợp pháp sức mạnh quân sự (số 2309):

– Thiệt hại do kẻ xâm lược gây ra cho quốc gia hoặc cho cộng đồng các quốc gia có tính lâu dài, nghiêm trọng và chắc chắn;

– Tất cả các phương thế khác để chấm dứt tình trạng này rõ ràng là bất khả hoặc vô hiệu;

– Phải hội đủ các viễn tượng để thành công;

– Việc sử dụng vũ khí không kéo theo những tai hại và hỗn loạn nghiêm trọng hơn tai hại ta đang cố loại trừ. Khả năng tàn phá của các phương tiện chiến tranh hiện đại là sức ép nghiêm trọng nhất phải được thẩm định trong điều kiện này.

Chúng tôi sẽ bắt đầu với việc dẫn giải tóm lược từng điều một, thế nhưng, tạm thời cần lưu ý những từ ngữ “cùng một trật” được đặt trước những điều được liệt kê trong sách Giáo lý. Những điều kiện được trình bày không được dùng cho một tiến trình lập luận theo kiểu “hoặc cái này… hay cái kia.” Có thể chúng ta gặp thấy một, thậm chí hai trong số những điều kiện trên, thế nhưng điều đó không biện minh cho sức mạnh quân sự. Tất cả các điều điện phải được thoả mãn, bằng không chúng ta phải loại bỏ đi sức mạnh quân sự như một hướng hành động đúng đắn.

  1. Tính lâu dài, nghiêm trọng và chắc chắn

Điều kiện đầu tiên này là đòi hỏi quan trọng nhất: nó đặt trước ba yếu tố còn lại và buộc tất cả phải được thoả mãn để biện minh cho sức mạnh quân sự. Nếu như sự đe doạ là nghiêm trọng nhưng không chắc chắn, hoặc chắc chắn nhưng không nghiêm trọng, hoặc chắc chắn và nghiêm trọng nhưng không kéo dài thì chiến tranh không được biện minh. Vì lập luận đó, điều kiện đầu tiên này thường bị lờ đi, với những quốc gia dùng biện pháp chiến tranh, hay việc hăm doạ chiến tranh như trong trường hợp nước Mỹ ép buộc nước Nhật mở cửa để giao thương với Tây phương, thì chẳng gì khác hơn là lợi nhuận kinh tế; hay trường hợp chiến tranh ở Iraq, các cuộc chiến được khởi đầu từ lời đồn và những giả thuyết vô căn cứ.

Hơn nữa, nếu điều kiện này – điều kiện nghiêm ngặt nhất – thoả mãn, thì chúng ta có thể tiếp tục với các điều kiện còn lại vốn cũng phải thoả mãn hết. Tất cả những điều kiện đó phải được thoả mãn cùng một trật mỗi lần.

  1. Tất cả các phương thế khác phải vô hiệu

Vua Salômôn nói, có một thời để giết chóc.[429] Thế nhưng thời đó là khi nào, và làm sao chúng ta biết nó đã đến? Chúng ta thường được nhắc nhở rằng, chiến tranh luôn luôn là “phương sách cuối cùng.” Dĩ nhiên, điều đó là đúng, nhưng chúng ta phải cẩn thận không để nó làm cho ra mê muội. Việc xem “chiến tranh là phương sách cuối cùng” tạo ra hình ảnh của một trình tự thời gian mà chiến tranh nằm ở tận đích điểm xa xôi, và phải vượt qua tất cả những giai đoạn khác trước khi chiến tranh xảy đến cũng như trở nên hợp pháp. Trong khi xem ra nguyên tắc này thuộc về trực giác, thế nhưng chúng ta phải nhớ rằng sự thận trọng không đòi hỏi phải thực sự thử từng chọn lựa thay thế trước khi sử dụng đến hành động quân sự; quả vậy, trong một vài trường hợp, nếu rõ ràng việc trì hoãn sử dụng hành động vũ trang sẽ thực sự gây ra thảm hoạ, thì việc thử từng lựa chọn thay thế đó có thể bị xem là nguy hiểm và vô ích. Vì lẽ đó, điều quan trọng là, trước chiến tranh, ta cần thử tất cả những giai đoạn khả thể trong tiến trình thời gian ấy, thế nhưng trong trường hợp những phép thử này không khả thi ta có thể bỏ qua luôn cũng được. Vậy thì, có lẽ tốt hơn phải nói rằng, chừng nào những chọn lựa không bạo lực thực sự vẫn còn khả thi, ta không được phép sử dụng đến chiến tranh. Nếu không còn biện pháp thay thế nào khả thể, thì có thể xem đây là một khả năng vô hiệu dẫu ta vẫn chưa thử nghiệm đến nó.

  1. Viễn tượng thành công

Trong chiến tranh, không có khả năng nào là chắc chắn đem lại thành công, bất chấp sức mạnh của công nghệ hoặc nhân lực, như nước Mỹ đã học được điều đó từ Việt Nam. Vì thế, chúng ta thấy được rằng điều kiện thứ ba – “viễn tượng thành công” – sẽ không đòi hỏi như điều kiện đầu tiên. Đối với việc đe doạ, chúng ta phải thực sự chắc chắn; đối với thành công, chúng ta chỉ cần được bảo đảm rằng có một khả năng đáng kể. Nếu như nỗ lực là vô ích thì thật là bất công khi hy sinh mạng sống để theo đuổi nó.

  1. Không kéo theo những tai hại lớn hơn

Ở đây, chúng ta quan tâm đến các hậu quả chiến tranh trong phạm vi chúng có thể biết trước được. Về điểm này, ta phải nhớ lại lời tuyên bố của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II rằng, những hậu quả không lường trước được trong bất kỳ hành động nào thường lớn hơn những hậu quả lường trước được, bởi vì không thể nào dùng lý trí mà tính toán tất cả các hậu quả.[430] Tuy nhiên, dẫu có thể lường được các hậu quả, chúng ta cũng buộc phải suy xét hết sức cẩn trọng và không được phép gây ra một điều xấu tệ hại hơn điều xấu ban đầu.

  1. Thẩm quyền thích hợp

Sau cùng, chúng ta phải hỏi ai là người ra quyết định cuối cùng tiến tới chiến tranh? Đúng hơn phải hỏi rằng ai là người chịu trách nhiệm đưa ra phán đoán dựa trên những tiêu chuẩn này:

“Việc thẩm định các điều kiện đó để có tính hợp pháp về luân lý, thuộc về sự phán đoán khôn ngoan của những người có bổn phận lo cho công ích.”[431]

Vậy thì, bởi vì chính quyền có trách nhiệm bảo vệ an toàn quốc gia nên nó cũng có nhiệm vụ phán đoán khi nào sử dụng lực lượng vũ trang và sử dụng như thế nào cho mục đích phòng vệ. Tuy nhiên, một điều kiện như vậy thật khó chấp nhận dưới thời đại của dân chủ vì người dân tự xem mình là những người cầm quyền đích thực, đúng hơn là các cử tri của những người nhà cầm quyền vốn khi đó sẽ cai trị dựa trên nền tảng là thông tin và viễn tượng mà các cử tri không thể có. Sự nhầm lẫn này dẫn đến kết quả là một não trạng mà theo đó người cử tri bình thường tin rằng anh ta có, hoặc phải có, thông tin đúng đắn đặt trước mặt cần thiết để tuyên bố cho mỗi câu hỏi về sự can thiệp vũ trang, đồng thời thêm vào đó những tuyên bố của anh ta phải được đưa ra thực hiện. Rủi thay, nỗ lực đặt hành vi quân sự dưới quan điểm của công chúng theo cách này hầu như lần nào cũng dẫn đến việc hoàn toàn bỏ qua từng điều kiện quy định chiến tranh chính đáng. Điều đó không phải nói rằng, các chính phủ phải tính đến chiến tranh chính đáng mới là phù hợp, nhưng có thể là họ phải tự đưa mình vào việc gánh vác bổn phận này; không thể giao nhiệm vụ đó cho người dân không am hiểu, dẫu anh ta có muốn hay không.

  1. Jus in bello hay “luân lý thời chiến”

Một khi đã ra quyết định và bắt đầu bước vào tình trạng chiến tranh, chúng ta buộc phải thay đổi viễn tượng của mình, vì xử lý mỗi quyết định trong thời chiến như thể đang trong thời bình sẽ là không thích hợp và không cần thiết, dù là chúng ta thực sự đúng đắn khi quyết định bước vào cuộc xung đột. Khi đó, trong tình trạng chiến tranh, chúng ta nhận thấy một bộ các điều kiện quy định mới, và những điều kiện này được xếp vào hạng mục jus in bello, nghĩa là hạng mục “luân lý thời chiến.”

Nội dung trang này
<1 ... 1920 21 2223>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!