Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

Và trong thông điệp của ngài về quyền tự do con người, Đức Giáo hoàng giải nghĩa sâu xa hơn ý tưởng truyền thống về Nhà nước và mối liên hệ giữa Nhà nước và tôn giáo:

“Thiên Chúa đã làm ra con người cho xã hội, và đặt con người vào trong cuộc đồng hành với người khác giống mình, để điều con người đòi hỏi đối với bản tính mình và vươn xa đến cái con người có nếu nó được đặt để trong các nguồn lực của con người, thì con người phải dành lấy bằng mối liên hệ với người khác. Do đó, xã hội phải công nhận Thiên Chúa như Đấng sáng lập ra xã hội và là Người Cha của xã hội, cũng như phải tùng phục, tôn kính sức mạnh và thẩm quyền của Người. Vì thế, đức công bằng ngăn cấm, cũng như chính lý trí can ngăn, Nhà nước là vô thần; hoặc chấp nhận một mối dây hành sử sẽ kết thúc trong tính vô thần, để đối xử cách bình đẳng với các tôn giáo (như họ gọi) khác biệt, và dành cho các tôn giáo các quyền lợi cũng như những đặc quyền ngang bằng. Bởi vì tuyên xưng một tôn giáo là thiết yếu đối với đất nước, thì tôn giáo đó phải bày tỏ cái gì là đúng, và cái gì có thể được công nhận mà không gặp khó khăn, đặc biệt là trong những Nhà nước Công giáo, bởi dấu vết của chân lý, như nó đã là, được ghi khắc trong nó. Vì thế, các nhà lãnh đạo quốc gia phải bảo tồn và bảo vệ tôn giáo này, nếu họ muốn mang đến – như nhiệm vụ phải làm – điều tốt đẹp cho cộng đồng với sự khôn ngoan và hữu dụng. Vì chính quyền hiện hữu để mang đến hạnh phúc cho những người mà họ cai trị; và mặc dù cùng đích gần nhất của Nhà nước là dẫn con người đến với sự phồn thịnh được tìm thấy trong cuộc đời này, thế nhưng, khi làm điều đó, Nhà nước không được phép giảm bớt, nhưng đúng hơn là phải làm tăng, khả năng của con người trong việc đạt tới sự thiện hảo tối thượng, nơi mà hạnh phúc bất diệt của con người cốt tại chỗ này là: hạnh phúc đó sẽ không thể đạt tới nếu coi thường tôn giáo.”[327]

Ở đây, chúng ta cảm thấy thật đúng lúc để nhớ lại lời đối đáp của các vị tông đồ, những người mà trước những Lời của Chúa Giêsu đã nói rằng: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?”[328] Chúng ta có thể cảm nghiệm được điều khó chịu tương tự vậy trong đề nghị về mối tương quan được chấp nhận giữa Nhà nước và Giáo Hội. Và tuy vậy, sự thật là thế, dù chướng tai hay không chướng tai.

  1. Những thái độ đúng đắn về tiền bạc
  2. Một “dịp tội” cần thiết

Đức Lêô XIII cảnh báo rằng “Kẻ phú quý đời này phải biết rằng, dầu tiền của nhiều, họ cũng không tránh được sự đau khổ, mà cũng không thêm phần ích lợi gì, để mua chuộc phúc lợi đời sau. Nói đúng hơn tiền của đối với đời sau chỉ là một trở ngại.”[329] Trong khi nói những điều đó, Ngài diễn tả thái độ về truyền thống của Kitô hữu đối với tiền bạc, hiện thân của “dịp tội” cần thiết.

Các dịp tội là “những hoàn cảnh bên ngoài – những sự vật hoặc những con người – hoặc do bản chất đặc biệt của nó hoặc do sự yếu ớt chung cho loài người hay cụ thể ở cá nhân nào đó, xúi dục và lôi kéo phạm tội.”[330] Nói rằng tiền bạc là “dịp tội” là công nhận nó có một vai trò quan trọng trong việc gây ra tội, chứ tiền bạc tự bản chất không phải là tội. Tiền bạc lại còn thể hiện được cấp độ của tinh thần trách nhiệm. Và lúc này thật hợp lý khi quay trở lại với Đức Lêô XIII với lời trích dẫn ở khía cạnh này:

“Kẻ phú quý đời này phải biết rằng, dầu tiền của nhiều, họ cũng không tránh được sự đau khổ, mà cũng không thêm phần ích lợi gì, để mua chuộc phúc lợi đời sau. Nói đúng hơn, đối với đời sau, tiền của chỉ là một trở ngại. Họ nên run sợ trước những lời Chúa Giêsu đặc biệt đe doạ kẻ giàu trong phúc âm. Ngày Chúa tái hiện phát xét mọi người thì họ phải rành mạch tính sổ với Người, về cách đã dùng tiền của họ được hưởng dư.”[331]
  1. Phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng

Một điểm quan trọng về tiền bạc được ẩn dụ trong những lời của Chúa Giêsu: quyền sở hữu không cấp quyền được sử dụng tài sản tùy thích (hoặc từ khước sử dụng tiền bạc, khi cần). Đó là sự phân biệt cổ điển giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Chúng ta tiếp tục với lời của Đức Lêô:

“Kèm theo đây là những nguyên tắc sử dụng tiền của, mà các triết gia ngoại đạo đã phác qua. Những nguyên tắc ấy chỉ có Giáo Hội toàn quyền giải nghĩa minh bạch và đưa từ phạm vi ‘lý thuyết’ sang phạm vi ‘thực hành.’ Ðiều căn bản ai cũng phải nhớ, là phân biệt quyền được sở hữu tiền bạc và quyền được sử dụng tiền của tùy thích cho phải lẽ. Quyền sở hữu – (như đã thấy ở trên) là quyền tự nhiên bất khả xâm phạm của con người. Thực hiện quyền ấy đối với con người sống trong một xã hội không những là một việc hợp pháp mà lại là một sự tối cần nữa. Thánh Tôma nói: quyền sở hữu của cải là điều hợp pháp và cần phải sử dụng quyền ấy để sống. Nhưng hỏi rằng: Phải dùng tiền của như thế nào cho phải lẽ? – Giáo Hội không ngần ngại quả quyết bằng những lời của Vị Thánh Tiến sĩ rằng: ‘Trong phạm vi ấy con người phải chân nhận một điều như sau: không ai được coi các sự vật trong thiên nhiên là của riêng mình. Các sự vật ấy đều là của chung, nên dầu mình có bao nhiêu, nếu mình thấy ai là kẻ túng thiếu thì mình phải tình nguyện phân chia với họ tùy theo sự túng thiếu của họ. Bởi thế, Thánh Phaolô có câu: ‘Hãy bảo kẻ giàu có ở thế gian này phải phân chia của cải cho rộng tay.’ Ðã hẳn không ai buộc lấy của cải cần thiết cho mình, hay cho gia đình đủ sống, mà cứu độ anh em đồng loại. Cũng không ai bắt buộc giảm bớt những của cải tiện nghi và thích đáng với địa vị của mình. ‘Thật ra không ai bắt ai phải ăn ở trái ngược với những tiện nghi của xã hội.’ Nhưng đã liệu cho mình đủ sự cần và tiện nghi, nếu còn phần dư, ai cũng bắt buộc dành để thí cho kẻ khó. ‘Phần của dư thì hãy phân phát.’ Ðó là bổn phận bắt buộc ai cũng phải thi hành, trong những trường hợp tối cần, là bổn phận do lẽ công bằng bắt buộc. Nhưng thường ngày chỉ là do bổn phận bác ái, nên không có luật pháp nào buộc giữ trọn phận sự ấy.”[332]
  1. Từ thiện của tư nhân đối lại với hoạt động của chính quyền

Sự phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản theo Đức Lêô đã trợ giúp chúng ta rất nhiều trong các vấn đề tranh luận ngày nay. Thí dụ, ngày nay người ta nói nhiều vai trò “việc từ thiện của tư nhân” để cứu giúp người nghèo đói và người túng quẫn. Một số đi xa hơn nữa khi nói, nếu chúng ta chỉ cắt giảm các chương trình của chính phủ và dành các loại thuế vốn hỗ trợ các chương trình đó cho quyền tự quyết của người đóng thuế, thì vấn nạn nghèo đói sẽ được xoa dịu cách hiệu quả hơn nhiều. Vì thế, chúng ta hãy tìm hiểu đạo lý của Công giáo, trước tiên là bác ái, sau đó tới vai trò của Nhà nước với nhiệm vụ cứu trợ nghèo đói.

  1. Công bình đến trước bác ái

Trước tiên, dù thông thường bác ái vẫn được coi là cái gì đó như “nhân đức tư nhân,” được thực hành bởi cá nhân hơn bị thúc bách bởi Nhà nước, chúng ta cũng phải công nhận rằng bác ái vẫn hoạt động trong tương quan với công bình và công bình có sự đòi buộc ưu tiên. Điều đó có nghĩa là nếu những đòi hỏi của công bằng chưa được đáp ứng thì bác ái vẫn không đi vào thực tế được, và vì thế điều mà Nhà nước trích ra từ những hạng mục thuế của người giàu không tất thiết là vấn đề của bác ái cưỡng bách nhưng là vấn đề của công lý cưỡng bách.

Bác ái cưỡng bách là điều không thích hợp, nhưng công lý cưỡng bách thì khác. Theo những lời của Đức Bênêđictô XVI thì bác ái vượt trên cả công bình:

“Bác ái vượt trên công bình, vì yêu thương là trao ban cho kẻ khác điều ‘thuộc về tôi;’ nhưng bác ái không thể hiện hữu nếu không có công bình, là điều buộc tôi phải trao trả cho kẻ khác điều ‘thuộc về họ;’ điều thuộc về họ căn cứ vào hữu thể và hoạt động của họ. Tôi không thể ‘ban tặng’ cho kẻ khác điều ‘thuộc về tôi’ mà trước tiên không trao trả lại cho họ điều thuộc về họ dựa theo công bình. Ai yêu thương anh em trong tình bác ái, thì trước hết phải thực thi công bình đối với họ. Công bình không những không xa lạ với bác ái, cũng không phải là con đường thay thế hay song song với bác ái: công bình liên kết chặt chẽ với bác ái, công bình là yếu tố nội tại của bác ái.  Công bình là con đường đầu tiên của bác ái hay – như Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã nói – là ‘tiêu chuẩn tối thiểu’ của bác ái.”[333]

Giáo lý Hội thánh Công giáo cũng vọng lên sự đồng thuận, với việc viện dẫn những câu nói có thẩm quyền khác biệt về chủ đề: “Không cho người nghèo dự phần lợi ích với chúng ta là chúng ta đã đánh cắp chúng và tước đoạt nó ra khỏi cuộc đời họ. Các lợi ích mà chúng ta sở hữu không phải là của chúng ta mà là của họ.”[334] “Tiên vàn các đòi buộc của công bình phải được thoả mãn tất cả; điều mắc nợ theo công bình thì không thể được ban tặng như một món quà của lòng bác ái.” [335]“Khi chúng ta phục vụ nhu cầu cho những người túng thiếu là chúng ta trao cho họ cái thuộc về họ, không phải thuộc về chúng ta. Hơn nữa chúng ta đang trả món nợ công bình chứ không phải là những việc thể hiện lòng thương xót.”[336]

Những ai cố gắng đặt bác ái đối nghịch với công bình, và cố dùng cái này để tránh cái kia là đang cố gắng phân chia hai mặt của một đồng tiền:

“Không có cách biệt giữa yêu thương đồng loại và khao khát công bình. Làm cho chúng tương phản nhau là làm méo mó đi cả tình yêu lẫn công bình. Thực vậy, ý nghĩa về lòng thương xót hoàn thiện ý nghĩa về công bình nhờ việc ngăn chặn công lý đóng chặt chính mình trong vòng thù hận.”[337]
  1. “Các bạn đã không xây dựng nó”

Đó có lẽ là thái độ của “chế độ nhân tài,” đã đưa tới sự đối chọi giữa bác ái và công bình. Thái độ đó được hình dung như kiểu không ai xứng đáng với cái mà họ không “làm” ra xét về mặt công bằng, và nó cho thấy, bất cứ cái gì tôi sở hữu hợp pháp thì thuần tuý và tuyệt đối là của tôi bởi vì tôi làm ra nó, và thật là bất công khi đề nghị tôi phải phân chia tài sản của tôi. Nhưng ở đây, Kinh Thánh đưa ra lời cảnh bảo:

“Anh em sẽ được ăn, sẽ được no nê và sẽ chúc tụng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, vì miền đất tốt tươi mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, ban cho anh em. Anh em hãy ý tứ đừng quên Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mà không giữ các mệnh lệnh, quyết định và thánh chỉ của Người, mà tôi truyền cho anh em hôm nay. Khi anh em được ăn, được no nê, khi anh em xây nhà đẹp để ở, khi anh em có nhiều bò và chiên dê, nhiều vàng bạc và nhiều mọi thứ của cải, thì lòng anh em đừng kiêu ngạo mà quên Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em… Anh em đừng tự bảo: ‘Chính năng lực của tôi và sức mạnh bàn tay tôi đã tạo ra cho tôi sự giàu có này.’ Anh em hãy nhớ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, vì Người ban cho anh em năng lực tạo ra sự giàu có…”[338]

Nói cho cùng, tất cả những gì chúng ta có đều là quà tặng từ Thiên Chúa. Theo ý nghĩa hẹp hơn, tất cả những gì chúng ta có đều là sản phẩm của xã hội mà ta sống trong đó, và trong xã hội ấy chúng ta có thể tham gia, sống, học hỏi, lao động và gặt hái thành quả. Không ai là một hòn đảo, người ta hay nói như vậy.

Trong khi đưa ra đòi hỏi quyền sở hữu và đòi trả lương cho người lao động đã góp sức là chính đáng, thì thật là viển vông khi nghĩ tưởng rằng chúng ta tạo ra mọi thứ từ hư không và chúng ta chẳng mắc nợ điều gì khác ngoài công khó của mình. Đúng thế, những hành động, năng khiếu, và ý tưởng tương tự đã mang lại cho con người một gia tài trong một đất nước phát triển, thí dụ, sẽ có những kết quả rất khác nhau trong thế giới thứ ba, vì thế vai trò của sự quan phòng về những thành tựu của chúng ta có ưu thế hơn. Thánh Ambrôsiô nói lên điều đó:

“Bạn nói, ‘của tôi’? Bạn có được cái gì là của mình? Khi được sinh ra từ cung lòng mẹ, bạn mang theo mình tài sản gì? Cái bạn nắm giữ nhiều hơn sự cần thiết là do bạo lực. Phải chăng Thiên Chúa bất công khi không phân phát cho chúng ta những phương tiện sống đồng đều với nhau, để bạn có được sung túc trong khi những người khác lại thiếu thốn? Hoặc đúng ra khi Thiên Chúa mong muốn trao ban cho bạn những dấu chỉ lòng nhân từ của Người, trong khi đó đồng bào của bạn lại được Người ban cho nhân đức kiên nhẫn? Như thế, khi bạn đón nhận quà tặng của Thiên Chúa mà lại giữ cho riêng mình phương tiện sống của nhiều người khác thì bạn nghĩ là mình có bất công hay không? Đó là bánh của kẻ đói mà bạn giữ lấy, áo quần của kẻ trần truồng mà bạn cất đi; tiền mà bạn cất giấu là giá cứu mạng người nghèo.”[339]
  1. Tốc lực của tiền

Thánh Basiliô ví tiền bạc như một dòng sông lớn: Nếu nước ở đó thường xuyên được lưu chuyển thì dòng sông đó sẽ vẫn giữ được mọi thứ tinh tuý; còn nếu nước ở đó bị bỏ quên không được dùng đến thì dòng sông sẽ trở nên hôi thối và tù đọng.[340] Thật là điều thú vị, bởi vì nó tương đồng với kinh tế, vốn là khái niệm về tốc lực của tiền bạc. Khái niệm đó nói rằng, tiền bạc, nếu rơi vào tay người nghèo, sẽ ngay tức khắc biến mất, hoặc là cho thuê hoặc cho bữa trưa hoặc cho một nhu cầu cấp bách nào đó. Nếu tiền nằm trong tay của một người rất giàu, nó có thể sẽ đi vào trong tài khoản ngân hàng để sinh ra lợi nhuận, hoặc là không đi đâu cả trong một thời gian rất dài. Giờ đây, nói theo kiểu kinh tế, cái sinh ra lợi nhuận là tốt đẹp, ít nhất từ quan điểm về một nền kinh tế vững mạnh, đầy sức sống và vận chuyển, trong khi tiền bị giữ lại quá lâu là điều nguy hiểm và dẫn đến tình trạng ứ đọng. Về điểm này dù cho người giàu có thường xuyên xài tiền và đầu tư đi nữa thì anh ta cũng không thể nào cân bằng với tốc lực của người nghèo. Và vì thế, ít nhất là từ quan điểm cụ thể, nhiều tiền lại là “vật cản” của nền kinh tế theo đúng nghĩa đen, trong khi đó tiền vô tay người nghèo càng nhiều càng tốt.

  1. Những thái độ đúng đắn đối với người nghèo

Trong khi sự giàu sang, vốn bị xem và bị đối xử cách rõ rệt như dịp phát sinh tội lỗi, có thể được hòa hợp với công ích, còn nghèo đói thì không hợp với công ích, cho nên nghèo đói cần giảm thiểu, thậm chí cần phải xóa bỏ, vì là một trong những hệ quả luôn hiện hữu của tội lỗi. Chúa Kitô đã nói: “Người nghèo anh em luôn có bên cạnh,”[341] thế nhưng không bao giờ được giải thích cách “bình thường hoá” về nghèo đói, đặc biệt là khi lời phát biểu đó nói đến sự cao quý do Chúa Kitô hiện diện, chứ không phải về khả năng chịu đựng đau khổ.[342] Vậy thì thái độ đúng đắn mà Kitô hữu phải có đối với vấn đề nghèo đói là gì?

  1. Cả tư nhân lẫn Nhà nước đều có vai trò của mình

Điều đầu tiên và trước hết là chúng ta cần phải loại bỏ vấn nạn chống lại hoạt động của chính quyền giúp đỡ người nghèo, theo đó chính quyền phải để những điều đó cho “lòng từ thiện tư nhân,” dựa trên giả định là Nhà nước không có danh nghĩa pháp lý để can thiệp. Thực là một quan điểm quá vô lý, chắc chắn thế, nhưng dù sao nó vẫn phổ biến. Về vấn đề này các Đức Giám mục Hoa Kỳ đã thẳng thắn trả lời rằng:

“Trách nhiệm làm vơi bớt tình cảnh khó khăn cho người nghèo là thuộc về mọi thành viên trong xã hội. Xét như cá nhân, mọi công dân có bổn phận trợ giúp người nghèo qua các hành động bác ái và trách nhiệm cá nhân. Tuy vậy bác ái cá nhân và hành vi tự nguyện vẫn chưa đủ. Chúng ta cũng phải gánh vác trách nhiệm đạo đức để trợ giúp và động viên người nghèo nhờ chung tay làm việc thông qua chính quyền để thiết lập các chính sách công bằng, hiệu quả.”[343]
  1. Chống lại hình thức đúc khuôn bêu xấu người nghèo

Tiếp đến, chúng ta cũng phải chiến đấu chống lại thái độ bất khoan dung với người nghèo, cứ như là họ thuộc tầng lớp bị trừng phạt công khai. Thật không khó để trích ra đây những đoạn Kinh Thánh vốn tôn trọng người nghèo thay vì bực bội vì tình cảnh nghèo khó của họ – tỏ lòng thương xót thay vì trịch thượng hay thái độ hợm mình. Trong thực tế, chúng ta có cảm tưởng khi khảo sát giáo huấn Kitô giáo là quan điểm truyền thống hoàn toàn đối nghịch với quan điểm ngày nay: trong quá khứ, nghèo khổ mang những dấu chỉ thiêng thánh và được coi như một biểu tượng, dù cho nó không được biểu hiện rõ ở bản thân và cuộc đời Chúa Giêsu. Ngày nay, khi xem xét các lời nói cùng hành động của nhiều người, thì dường như cảnh nghèo là điều tội lỗi xấu xa, và, như mối tương quan tất nhiên, những người giàu có nhất trong xã hội tự động được coi là đức độ, và nó cân xứng với số tài sản mà anh ta kiếm được. Vì thế, xoá bỏ đi những đúc khuôn phổ biến đang lớn dần làm đảo lộn giá trị trong thái độ của Kitô hữu đối với người nghèo là cấp thiết.[344]

  1. Nghèo đói không hàm ý tính lười biếng hay không muốn làm việc

Những người nằm trong các chương trình của chính phủ thường hay bị nói bóng gió là xao lãng làm việc, những người đó hưởng trợ cấp xã hội hàng năm dù cho họ có thể làm việc nếu muốn. Thống kê cho thấy, không có một giả định nào trong số đó được chứng minh đúng.[345] Rất nhiều người nhận trợ cấp xã hội là những bà mẹ, họ phải, hoặc có sự chọn lựa đáng khen, ở nhà để dưỡng nuôi con cái. Một số là người già. Số khác là trẻ em. Vậy mà những bà mẹ đó lại bị công kích và ẩn ý rằng họ phải sinh con không vì lý do nào khác hơn là duy trì điều kiện đủ để chính phủ chi trả trợ cấp – cứ như là một người nào đó có suy nghĩ thông suốt không nhận thấy rằng kiếm một công việc thường thường thì dễ dàng hơn là ở nhà chăm sóc con cái. Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy người nghèo thể hiện khát khao muốn được làm việc giống như bao tầng lớp xã hội khác. Chúng ta phải cùng với các Đức Giám mục Hoa Kỳ yêu cầu loại trừ những quan điểm sai lầm đó:

“Chúng tôi yêu cầu mọi người hãy kiềm chế các hành động, lời nói và thái độ nhằm bêu xấu người nghèo, cường điệu những lợi ích mà người nghèo nhận được và thổi phồng lên những trò gian lận trong việc chi trả những khoản trợ cấp xã hội. Đó là những triệu chứng của một thái độ gay gắt với người nghèo.”[346]

Các Đức Giám mục đã đúng đắn để ý đến bọn đạo đức giả trong thái độ nhờ quan sát đến những những khoản trợ cấp thiết thực nhất được chính phủ “chi trả” không đến được với tầng lớp thấp nhưng lại về tay những cá nhân và các tổ chức không phải là nghèo khổ. Tuy vậy, việc chỉ trích trực tiếp đến khoản chi trả cho người giàu hầu như không được đề cập đến. Vì sự xúc phạm có chọn lựa nên những quan điểm nói trên rõ ràng không xuất phát từ bất cứ loại hiểu biết thực sự về sự gian lận của dân nghèo, nhưng đúng hơn xuất phát từ những thái độ tiêu cực – đặc biệt là nỗi sợ  – trong thâm tâm những người không thuộc về tầng lớp thấp này.

  1. “Đói kém là một nguồn động lực tuyệt vời.”

Tất cả chúng ta đã nghe, hoặc trên đài hoặc từ một người nào đó trên đường, lời phát biểu này: sự đe doạ đói khổ hay một loại đau khổ khác nào đó tốt cho người nghèo và người thất nghiệp. Chúng ta nói vậy là vì sự đe doạ đau khổ là cái thúc đẩy những sinh vật lười biếng đó tham gia vào lao động tạo sản phẩm, và nếu sự đe doạ đó mất đi thì vấn đề nghèo đói sẽ chỉ trở nên tồi tệ. Thế nhưng một lần nữa, kinh nghiệm và phản ánh chung cho thấy rõ thái độ đó là sai lầm. Rất ít người giới hạn giờ làm việc của mình lại vì lương họ nhận được. Hầu hết mọi người, sau khi “làm việc,” về nhà chỉ chuyển sang một công việc hay một dự án khác nào đó. Như đã nói trên, thì những người khoẻ mạnh vẫn cố gắng làm việc. Những ai tuyên bố “đói kém là nguồn động lực tuyệt vời” lại rất hiếm khi dám thú nhận rằng chính họ cũng cần động lực đó. Tệ hơn nữa, lời nói ấy ngụ ẩn rằng nghèo đói là một vấn đề về động lực, và qua ngụ ẩn đó nó cho phép người nói tránh được hoàn toàn những đòi buộc về đạo đức về vấn đề nghèo đói đưa đến cho anh ta và xã hội. Đó là một sự rũ bỏ trách nhiệm đối với người nghèo bằng cách nhìn cái nghèo như một phương thuốc tốt nhất để chữa cái nghèo.

  1. “Ai không làm thì cũng đừng ăn.”

Người ta nói rằng ma quỷ cũng thích trích dẫn Kinh Thánh bao lâu có thể viện dẫn nó cho phù hợp với mục đích của mình. Điều này dường như có thể áp dụng cho việc giải thích lời phát biểu quen thuộc của Thánh Phaolô dành cho giáo đoàn Thêxalônica: “Ai không làm thì cũng đừng ăn.”[347]

Nội dung trang này
<1 ... 1617 18 1920 ... 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!