Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

Đầu tiên, tự do đó không nên hiểu một cách đơn thuần như một hành động tùy tiện của ý chí cá nhân, nhưng tự do hệ tại ở khả năng hướng ý chí con người đến một cùng đích chắc chắn – sự thiện. Điều này có nghĩa là tự do có mục đích, tức là cứu cánh luận. Nhưng cho dù chúng ta thừa nhận bản chất của tự do như việc sở hữu một đường hướng đặc biệt, chúng ta lập tức đối mặt với một câu hỏi khác: làm thế nào mà một người có thể biết được đường hướng nào là tốt? Khi đó chúng ta sẽ hiểu được tri thức là một điều kiện tiên quyết và cần thiết cho một hành động đúng đắn của tự do như thế nào. Cuối cùng, chúng ta nhận ra tại sao con người chỉ là một thụ tạo “tự do” – vì tự do đòi hỏi hiểu biết và sự lựa chọn để hành động phù hợp với chân lý đã đạt được. Bản chất về trách nhiệm của con người nằm ở đây. Con người có thể  đạt được tự do, vì con người có thể tìm kiếm chân lý, gắn bó với chân lý, và hành động dựa trên chân lý.

  1. Tự do có mục đích

Tự do không là cứu cánh mà cũng không là một điều tuyệt đối. Tính hợp pháp của tự do tùy thuộc vào chiều hướng của nó – vào cách nào nó được hướng dẫn – và bất cứ công thức nào mà tách tự do ra khỏi khía cạnh định hướng thì đồng nghĩa với việc hủy hoại giá trị của nó. Công đồng Vaticanô II diễn tả như sau:

“Thiên Chúa đã muốn để con người tự định liệu, tự quyết định đi tìm Đấng Tạo Hóa; và nhờ kết hợp với Ngài cách tự do, con người tiến tới sự hoàn thiện trọn vẹn và hạnh phúc.”[113]

Khi nói về điều này, chúng ta không chỉ thừa nhận tự do có một đường hướng, mà chúng ta còn thừa nhận mục tiêu chính đáng của nó nữa, đó là sự hiệp thông với Thiên Chúa.[114] Những nét đặc trưng này làm dịu não trạng khá phổ biến trong thời đại hôm nay, rằng để được coi là tự do, chúng ta phải tìm cách để thoát khỏi sự ảnh hưởng từ phía những người xung quanh của chúng ta. Trái lại, tự do đích thực là “được thủ đắc trong tình yêu, nghĩa là trong việc tự hiến chính mình.[115] Cũng thế, nó làm cân bằng khuynh hướng thứ hai của cùng một não trạng, vốn đề cao một tự do hầu như không có những giới hạn và cũng đối lập với cách hiểu của Giáo hội Công giáo:

“Tự do là thật, nhưng hữu hạn: nguồn cội tuyệt đối và vô điều kiện của tự do không hệ tại chính nó, nhưng là trong đời sống nơi mà tự do được đặt vào và đồng thời nhận chịu những giới hạn và những khả năng. Đó là tự do của một thụ tạo, nghĩa là một món quà cần phải đón nhận như một hạt mầm và phải làm triển nở với tinh thần trách nhiệm.”[116]
  1. Tự do của ý chí phụ thuộc vào trí tuệ

Như chúng ta đã gợi ý, tự do của con người bao hàm sự hiểu biết. “Tự do… chỉ thuộc về những con người sở hữu ân sủng của lý trí hoặc trí khôn. Khi xét theo bản chất của nó, tự do là khả năng chọn lựa một giải pháp hợp lý cho mục tiêu cuối cùng đã đề ra, cho chính con người là chủ nhân của các hành vi của mình, vốn có thể đưa ra một sự lựa chọn trong số nhiều sự lựa chọn khác nhau.”[117] Và như thế, tự do – của ý chí hoặc bất cái gì khác –  không thể tồn tại mà thiếu vắng khả năng của con người để phân biệt cái gì là đúng và tốt lành:

“Bây giờ, vì mỗi chọn lựa như một giải pháp được xem là tốt lành hay hữu ích, và vì sự thiện, theo đúng nghĩa, là đối tượng riêng của khát vọng con người, hệ luận là tự do chọn lựa là đặc tính của ý chí, hay đúng hơn, là giống với ý chí trong chừng mực mà nó có trong hành động của mình, là khả năng chọn lựa. Nhưng ý chí không thể tiến tới hành động cho đến khi nó được khai sáng bởi tri thức vốn có nơi trí tuệ. Nói cách khác, sự thiện mà ý chí mong ước là nhất thiết tốt lành do trí tuệ cho nó biết; và hơn nữa, vì trong tất cả các hành động tự nguyện, sự chọn lựa là hệ quả của một quyết định theo chân lý của sự thiện đã được bày tỏ, khi tuyên bố sở thích tốt lành nào nên thực hiện. Không một người hiểu biết nào lại có thể nghi ngờ rằng quyết định là một hành động của lý trí, chứ không phải của ý chí. Mục tiêu cuối cùng hay đối tượng của cả ý chí sáng suốt và khả năng của ý chí chỉ có thể tốt lành khi nó tuân theo lý trí.”[118]

Vì vậy, tự do không nên được xem như một khả năng bẩm sinh, nhưng nó cần được diễn tả chính xác hơn như một điều kiện có thể đạt được và duy trì, vốn có thể hiện hữu ở một mức độ nhiều hơn hay ít hơn đối với một cá nhân, mức độ này phụ thuộc vào việc liệu con người có sống theo những mệnh lệnh của lý trí ngay thẳng hay không. “Do đó, vì điều kiện tự do của con người là như thế, cho nên nó cần có ánh sáng và sức mạnh để hướng dẫn các hành vi của mình theo sự thiện và hạn chế chúng không theo sự dữ. Không có điều kiện này, tự do của ý chí con người sẽ hủy hoại chính con người.”[119]

  1. Tự do và chân lý

Những điều đã trình bày cho tới giờ có thể được tóm gọn qua lời của Đức Kitô: “Các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ cho các ông được tự do.”[120] Vì lý do này, Người đã công bố với Philatô rằng: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.”[121] Và vì được sinh ra để làm chứng cho sự thật, Người đã thiết lập lại tự do cho con người.

Do đó, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phát biểu một cách đúng đắn rằng: “Nơi Đức Giêsu Kitô, người ta nhận ra rằng sự gắn bó với chân lý và sự thờ lạy Thiên Chúa là những cội rễ thâm sâu nhất của tự do.”[122] “Chỉ có tự do tuân phục Chân Lý mới dẫn con người tới sự thiện đích thực của con người. Sự thiện của con người, đó là ở trong chân lý và là làm theo Chân Lý.”[123]

  1. Tự do và luân lý    

Cũng như tự do luôn luôn phụ thuộc vào chân lý, thì nó chắc chắn cũng liên hệ với vấn đề luân lý, vì cách cư xử tốt thì không gì hơn là hành động phù hợp với chân lý. Để minh họa cho mối liên hệ này, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tổ chức một cuộc thảo luận về Thông điệp Veritatis Slendor quanh cuộc đối thoại của Đức Kitô với người thanh niên giàu có, người đã hỏi: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?”[124] Dựa vào câu hỏi này và câu trả lời của Đức Kitô về câu hỏi này, thánh nhân giải thích rằng:

Câu hỏi luân lý đã nhận được lời giải đáp của Đức Kitô: không thể loại trừ vấn đề tự do, nhưng đặt vấn đề tự do vào ngay giữa trung tâm, bởi lẽ không có luân lý nếu không có tự do. ‘Chỉ có trong tự do mà con người mới tìm hiểu đâu là điều thiện.’ Thế nhưng tự do nào? Những người đương thời với chúng ta ‘rất ư đề cao’ tự do và ‘hăng say theo đuổi’ tự do, nhưng lại ‘thường cưng chiều tự do một cách thiếu ngay thẳng; coi tự do như là quyền được làm bất cứ điều gì, miễn sao được thỏa thích, kể cả điều xấu.’ Đối lại với họ, Công Đồng trình bày tự do ‘chân thật’ như sau: ‘Tự do chân thật là dấu chỉ đãi ngộ nơi con người, chứng tỏ con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn để cho con người ‘tự bàn hỏi với chính mình’ (cf. Hc 15,14), ngõ hầu con người có thể tự mình tìm kiếm Đấng Tạo Hóa và nhờ gắn bó với Ngài một cách tự do mà đạt mức thành toàn trong một tình trạng viên mãn chân phúc.’”[125]

Ở một chỗ khác, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng giảng giải rằng chính nhờ có vấn đề luân lý mà Thiên Chúa đã dạy con người đưa ra những giải pháp đầu tiên của mình dựa trên tự do. Điều này đã được thực hiện trong Vườn Êđen khi Thiên Chúa đặt con người đối diện với cây cho biết điều thiện điều ác.[126] Lệnh truyền “ngươi không được ăn” không phải là một kế hoạch tàn bạo, một cái bẫy để cho thụ tạo bị thất bại: đó là một nền tảng huấn luyện cần thiết để dạy cho con người biết tự do là gì, sự thiện của điều được nhận biết thì cao cả đến nỗi nó được định là nặng ký hơn bất kỳ sự dữ nào vốn phát xuất từ việc lạm dụng nó.[127]

Chính qua ví dụ này mà chúng ta học được mục đích tích cực của những luật cấm luân lý, cũng như cách thức “Luật Thiên Chúa như vậy, không hề khinh giảm tự do của con người và lại càng không gạt bỏ tự do; ngược lại, luật Thiên Chúa bảo vệ và cổ võ tự do.”[128]

Ở đây, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đang lập luận chống lại những khuynh hướng phổ biến cho rằng luân lý và tự do như là hai nhân tố đối lập, như thể để cho cái này được nuôi dưỡng thì cái kia phải bị hủy diệt đi. Đức Lêô XIII đã xử lý một kiểu hiểu lầm như vậy đã có từ rất lâu trước ngài và thường xuyên chống lại sự hiểu lầm đó trong trận chiến với các triết gia của trào lưu Khai Sáng: “Không có kẻ ngu dốt nào hơn kẻ có thể tuyên bố hay quan niệm một điều thế này là, bởi vì con người tự bản chất là tự do, cho nên con người được miễn trừ khỏi lề luật. Nếu chuyện đó xảy ra, thì hệ luận là chúng ta được tự do, khi tước đi lý trí.”[129] Luật luân lý không tước đi tự do của con người, nhưng “khiến con người trở thành người sở hữu một sự tự do hoàn hảo hơn.”[130]

“Con người được tự lập thật sự về mặt luân lý thì không hề có nghĩa là con người từ chối nhưng đón nhận luật luân lý, giới răn của Thiên Chúa: ‘Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người…’ (St 2,16). Tự do của con người và Luật của Thiên Chúa đồng qui với nhau và được mời gọi thấm nhập vào nhau, nghĩa là con người tự do vâng phục Thiên Chúa và Thiên Chúa chăm lo cho con người một cách hào phóng. Do đó, không như một số người vẫn tưởng, vâng phục Thiên Chúa thì không phải là một sự ngoại thuộc (hétéronomie), như thể đời sống luân lý phải lụy phục ý muốn của một quyền lực vô song tuyệt đối, nằm ngoài con người và trái ngược với sự khẳng định của tự do con người.”[131]
  1. Tự do và xã hội

Nếu tự do nhân loại đã thành hiện thực đến một mức độ nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ mà các hành vi cá nhân phù hợp với chân lý và ý muốn của Thiên Chúa, thì khi đó chúng ta có thể áp dụng cùng một suy luận như thế với xã hội xét như là một tổng thể:

“Điều này cho thấy rằng, luật vĩnh cửu của Thiên Chúa là tiêu chuẩn và quy tắc độc nhất cho sự tự do của con người, không chỉ nơi từng cá nhân, nhưng còn nơi cộng đồng và xã hội dân sự mà con người lập nên khi họ liên kết với nhau. Vì thế, sự tự do đích thực của xã hội loài người không hệ tại việc mỗi người làm những gì họ thích, vì đơn giản điều này sẽ kết thúc trong sự xáo trộn và hỗn loạn, đồng thời đem đến việc lật đổ Nhà nước; nhưng trái lại, hệ tại vào những huấn lệnh của luật dân sự mà tất cả mọi người có thể dễ dàng hòa hợp với những mệnh lệnh của luật vĩnh cửu.”[132]
“Vì thế, bản chất tự do của con người, tuy được nhìn nơi các cá nhân hay xã hội, nơi những ai ra luật hay những kẻ thừa hành, giả định sự cần thiết của việc tuân phục một luật nào đó tối thượng và vĩnh cửu, vốn không gì khác hơn chính là quyền bính của Thiên Chúa, quy định điều thiện và ngăn cấm sự dữ. Đồng thời, quyền bính của Thiên Chúa trên con người không hề thu hẹp hoặc thậm chí phá hủy tự do của họ, nhưng quyền bính đó vẫn bảo vệ và kiện toàn con người, vì sự hoàn hảo đích thực của muôn loài thụ tạo được tìm thấy nơi sự theo đuổi và đạt được cứu cánh tương ứng của chúng; thế nhưng cùng đích tối hậu mà tự do con người buộc phải khao khát chính là Thiên Chúa.”[133]
  1. Tự do, luật tự nhiên và thân xác

Cuộc thảo luận của chúng ta sẽ không hoàn tất nếu chúng ta không nói đến thân xác vốn đi đôi với sự tự do. Trong con mắt của luật tự nhiên, thân xác hoạt động như một thành phần nền tảng của luân lý và việc sử dụng tự do, thế nhưng một khi tự do trở nên giáo điều, theo khuynh hướng của các ý thức hệ tự do và tự do chủ nghĩa, thân xác không còn trở nên quan trọng, mà chỉ là một phương tiện đơn thuần để sử dụng và làm cho con người bị mắc kẹt trong đó, một mảnh tài sản của cái tôi, được sử dụng theo cảm tính và sở thích nhất thời, không nói cho chúng ta biết thêm điều gì về đạo đức đúng đắn. Điều này trở nên hiển nhiên rõ ràng trong các hệ thống mà tự do được coi như một điều tuyệt đối, tại đó thân xác bị tước mật mọi ý nghĩa mang tính chất khách thể và bị đối xử như một loại tài sản cầm cố:

“Tự do nào tự xưng mình là tuyệt đối thì cuối cùng sẽ đối xử với thân thể con người như thể đó là một dữ kiện thô sơ, chưa có ý nghĩa và giá trị luân lý bao lâu chưa được tự do mang vào trong dự phóng của nó. Do vậy, bản tính con người và cơ thể được coi là những tiền kiện hoặc những yếu tố chuẩn bị về mặt chất thể rất cần thiết cho sự lựa chọn của tự do, nhưng nằm bên ngoài con người, bên ngoài chủ thể và hành vi nhân linh… Lý thuyết luân lý này không phù hợp với sự thật về con người và về tự do. Nó mâu thuẫn với những giáo huấn Giáo Hội về sự thống nhất của hữu thể nhân linh mà linh hồn có lý tính vốn tự thân và tự yếu tính (per se et essentialiter) là mô thể của thân xác. Linh hồn thiêng liêng và bất tử là nguyên lý thống nhất của hữu thể nhân linh, linh hồn là cái mà bởi đó hữu thể nhân linh hiện hữu như một toàn thể – corpore et anima urius – với tư cách là ngôi vị. Những định nghĩa này không chỉ nói lên rằng cả đến thể xác, được hứa cho sống lại, cũng sẽ dự phần vào vinh quang: chúng đồng thời nhắc nhở mối liên kết giữa lý trí và ý chí tự do với tất cả những năng lực của cơ thể và của giác quan.”[134]

Thân xác, vì có ý nghĩa, nên cũng có khả năng cho ta biết nội dung của luật tự nhiên và như thế, nó không bao giờ là một vật cản trở nhưng là một sự thiện được tạo ra, sẵn sàng hỗ trợ con người trong việc theo đuổi chân lý. Vì thế, thật là sai lầm khi giảm bớt tính luân lý của một sự vật thiêng liêng và trừu tượng, như thể con người không phải gồm xác hồn:

“Chủ thuyết nào mà tách lìa hành vi luân lý khỏi những chiều kích thể xác khi nó được thực hiện thì sẽ đi ngược lại với những giáo huấn Thánh Kinh và Thánh Truyền: một chủ thuyết như thế sẽ làm sống lại, bằng những hình thức mới hơn, một số sai lầm trước đây mà Giáo Hội đã không ngừng đả phá, bởi chúng giản lược ngôi vị con người thành một thứ tự do “thiêng liêng” chỉ là hình thức bề ngoài mà thôi. Giản lược như vậy thì có nghĩa là không hề nhìn nhận ý nghĩa luân lý của thân xác và của những hành vi gắn liền với thân xác… thân xác và linh hồn thì bất khả phân ly: trong ngôi vị, trong tác nhân hữu ý và trong hành vi có suy tính, thân xác và linh hồn hoặc tồn tại hoặc tiêu tan cùng với nhau.”[135]

Chỉ nhờ vào những giới luật này mà ý nghĩa của luật tự nhiên được thấu hiểu cách đúng đắn:

“Luật luân lý tự nhiên diễn tả và nằm trên những mục đích, quyền và nghĩa vụ vốn đặt nền tảng trên bản chất thể lý và tinh thần của con người. Vì thế, luật này không thể bị nghĩ cách đơn giản như là một sự thiết lập các quy tắc dựa trên cấp độ sinh học; trái lại nó phải được định nghĩa như là trật tự lý tính mà từ đó con người được Đấng Sáng Tạo mời gọi định hướng và chỉnh sửa đời sống cũng như hành động của mình, đồng thời cách đặc biệt là cách sử dụng thân xác.”[136]

Luật tự nhiên không cho phép bất kỳ sự phân chia nào giữa tự do và bản tính, nhưng trái lại hoạt động như một nguyên lý giúp làm hài hòa cả hai.[137]

  1. Tự do và lương tâm

Bây giờ, chúng ta có khả năng giải quyết vấn đề về mối tương quan giữa lương tâm và tự do. Mối tương quan này thì đặc biệt quan trọng trong bối cảnh chính trị hiện nay của chúng ta, nơi mà những cuộc tranh luận thường xuyên nổ ra liên quan đến những vấn đề nào bàn về sự phán xét riêng của lương tâm cá nhân, những hành vi nào có thể bị cưỡng chế bởi thẩm quyền xã hội, và những thẩm quyền nào có khả năng quyết định những chuyện như thế. Những cuộc tranh luận này sớm muộn gì cũng dẫn đến việc đưa ra những câu nói, như là: “lương tâm đứng trên hết,” hay phàn nàn rằng, vấn đề cụ thể này thuộc về “một phán quyết khôn ngoan.” Hai quan niệm này thì khác biệt tự bản chất, nhưng có chiều hướng trở nên hàm hồ khi bị chuyển đổi thành những khẩu hiệu mang tính chính trị – nhưng chúng luôn liên quan tới tự do và được trưng ra để bảo vệ cho tự do đúng đắn. Chúng ta sẽ thảo luận mỗi quan niệm trên ở một điểm sau, khi chúng ta đi đến chủ đề luân lý của Giáo hội Công giáo nói riêng,[138] nhưng bây giờ, chúng ta nên tạm ngừng để nhắc rằng, lương tâm phải luôn được tôn trọng, và không bao giờ được tưởng tượng như một cái gì đó vốn được điều hành một cách tùy tiện, như thể nó không có giới hạn hoặc nghĩa vụ ở bên ngoài nó. Tự do của lương tâm phải được xem xét trong cùng một khuôn mẫu như trong các phần trước. Quan điểm thích hợp này đã được tóm tắt trong lời phát biểu của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, như sau:

“Nếu trong hành trình truy tầm chân lý, mỗi cá nhân có quyền được tôn trọng thì trước đó mọi người đều đã có bó buộc luân lý nghiêm trọng là phải tìm kiếm chân lý và một khi đã nhận biết chân lý, phải gắn bó với chân lý. Trong chiều hướng này, Đức Hồng y John Henry Newman, nhà bảo vệ lừng danh quyền lợi của lương tâm, quả quyết một cách mạnh mẽ: ‘Lương tâm có những quyền lợi bởi vì nó có những bổn phận.’”[139]

Mặc dù một cuộc thảo luận dài dòng có thể được thực hiện liên quan đến sự tôn trọng đối với những gì có ý nghĩa trong thực tế cho các thẩm quyền mang tính chính trị và tôn giáo, những điểm này sẽ được nói thêm ở những chỗ khác. Ở đây, chúng ta sẽ chỉ đề cập đến nhiệm vụ quan trọng nhất của lương tâm là cần được đào luyện một cách đúng đắn bởi một nhà mô phạm, có thẩm quyền nhất để hướng dẫn nó, người đó chính là Giáo Hội:

“… uy quyền của Giáo Hội không làm thiệt hại tự do lương tâm của các Kitô hữu chút nào: một đàng, tự do lương tâm không bao giờ là một tự do ra ‘khỏi’ chân lý, nhưng tự do luôn luôn và chỉ ở ‘trong’ chân lý: đàng khác. Huấn Quyền không cung cấp cho lương tâm Kitô hữu những chân lý xa lạ với đương sự, mà ngược lại nêu dẫn những chân lý mà lương tâm vốn đã sở hữu trước rồi bằng cách phô bày những chân lý ấy khởi đi từ hành vi đầu tiên là đức tin. Giáo Hội luôn hiến thân và chỉ hiến thân để phục vụ lương tâm, giúp cho lương tâm đứng vững, tránh bị chao đảo trước mọi luồng gió chủ thuyết mặc cho sự lừa đảo của người đời (cf. Ep 4,14) và đứng lệch hướng ra khỏi chân lý về sự thiện của con người nhưng, nhất là trong những vấn đề gây cấn nhất, đạt được chân lý một cách chắc chắn và ở lại trong chân lý.”[140]
  1. Nô lệ

Thiết tưởng là khôn ngoan khi đưa ra vài nhận định về nô lệ để khép lại cuộc thảo luận của chúng ta về tự do. Đó là vì, một điều có vẻ hiển nhiên là sự hiểu lầm phổ biến về tự do con người trực tiếp dẫn đến một sự hiểu lầm về thái cực đối lập của nó. Ví dụ, vì khuynh hướng đơn giản hóa tự do như là hành vi cá nhân không bị kiềm chế, nên khi đó, chúng ta chắc chắn đã hiểu nô lệ như một hạn chế quá đáng các hành vi của một con người. Thông thường, một khi điều này xảy ra, những người bảo vệ cho tự do đều bị hiểu lầm này, và bắt đầu phân tích giới hạn của tự do như một bước đến nô lệ, và đó là điều không đúng.

Nội dung trang này
<1 ... 56 7 89 ... 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!