Như một thí dụ về sự hiếu hòa lành mạnh của hai khía cạnh, đồng thời cũng chứng minh rằng Tuyên ngôn Dignitatis Humanae không mang tính cách mạng trong bản chất của nó, chúng tôi phải nhắc nhớ độc giả về vai trò của Giáo Hội trong việc chống lại các cuộc đàn áp nhân dân trong quá khứ, chẳng hạn cuộc đàn áp chống lại người Do thái và những phụ nữ bị buộc tội là phù thuỷ. Các giáo sĩ trong toà điều tra là một trong những tiếng nói mang tính quyết định trong các nỗ lực nhằm hạn chế sự bức hại các “phù thuỷ” và “thầy pháp” ở Châu âu. Đức Giáo hoàng Alexander thứ IV thậm chí còn công bố một đạo luật nhằm ngăn chặn kể cả việc điều tra những người không chứng minh được là phù thuỷ.
Như một ví dụ đối nghịch cho thấy chuyện gì đã xảy ra khi nhiều phong trào bình dân được phép diễn ra mà không có bất kỳ sự can ngăn từ một quyền lực tinh thần thực sự nào, các vụ xét xử phù thuỷ thành Salem ở Mỹ có thể dạy chúng ta rất nhiều điều. (Chú thích: Vụ án các phù thủy ở Salem (Hoa Kỳ) năm 1692-1693 đưa tới việc xử tử 20 người – trong đó có 16 phụ nữ).
Quay trở lại với vấn đề lương tâm, chúng ta phải nhớ rằng, Đức Lêô XIII, người chiến đấu chống lại những sai lầm chính trị của chủ nghĩa tự do và đã được trích dẫn trong Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, đã tuyên bố cách hùng hồn sự đồng tình của mình với quan điểm của Công đồng Vaticanô II khi nói “Giáo Hội đã lưu ý cách nghiêm chỉnh rằng không ai buộc phải chấp nhận niềm tin Công giáo trái với ý muốn của họ, vì, như thánh Augustinô nhắc nhở chúng ta cách khôn ngoan rằng, ‘Con người không thể tin vào điều gì khác với điều mình muốn.’”[312]
Giờ đây chúng ta đến với vấn đề cạnh tranh trong các vấn đề chính trị, vốn dĩ có liên quan rất gần với chủ đề thảo luận của chúng ta về các xã hội tư bản. Đầu tiên chúng ta bắt đầu với hình thức kinh tế. Sau đó chúng ta tập trung xem xét nó trong biên độ lý trí rộng hơn, bởi thái độ kinh tế của chúng ta không bao giờ chỉ dừng lại ở lãnh vực thuần kinh tế, nhưng phải trải rộng và phủ khắp mọi lãnh vực trong đời sống.
Giống như chủ nghĩa tư bản và thuyết tiến hoá, xã hội hiện đại tin rằng xung đột là một tài sản nội tại. Nó là động lực cho sự tiến bộ. Trong khoa học, chẳng hạn, người ta tin rằng chính đời sống con người là kết quả của một cuộc đấu tranh sinh tồn không ngừng nghỉ, một “quy trình chọn lọc tự nhiên” nhờ đó mang lại sự tiến bộ. Quan điểm tương tự này cũng xuất hiện trong các ý thức hệ kinh tế vốn xem việc cạnh tranh là dụng cụ cho sự hạnh phúc xã hội và tính sáng tạo của con người. Tương tự, trong các thể chế chính trị, có một kiểu “xung đột được thể chế hoá” vốn được hình thành bởi sự tách biệt của các nhánh chính quyền và các đảng phái cạnh tranh nhau để kiểm soát các nhánh đó. Một hệ thống như thế được thiết kế cho việc xung đột.
Vì thế, trong mọi trường hợp, dường như giả định ngầm rằng hoà bình theo sau hỗn loạn, và rằng xung đột là mẹ của hài hoà. Bởi vì nó đã ăn sâu tựa như bản chất vậy, và điều này có thể làm độc giả ngạc nhiên khi thấy rằng Giáo Hội – và thực sự trong hầu hết các truyền thống khác ngoài những hệ thống hiện đại – lại dạy điều trái ngược: Hoà bình là giá trị tối hậu phải được kiếm tìm và phải tránh khỏi xung đột;[313] và rằng trong thực thế đó là một bổn phận phải được thi hành ngay và không được bỏ mặc như thể nó sẽ xảy đến như một kết quả của tiến trình tự nhiên.[314]
Hoà bình nói đến ở đây không phải là hoà bình theo sau những cuộc chiến, vốn đơn thuần là hoà bình của sự chết và chiến thắng. Hoà bình mà Kitô hữu kiếm tìm không chỉ là sự thiếu vắng chiến tranh, đau khổ, hay sự căng thẳng mong manh của “những thế lực được cân bằng.” Hòa bình đích thực là một sự hiệp nhất hài hòa của lý trí mà nhờ đó người ta không chỉ đòi hỏi chấm dứt chiến tranh, nhưng còn thực sự thỏa thuận trong những ước muốn của mình. Những người như thế “được thống nhất” trong những nỗ lực của họ. Tính đơn nhất của hoà bình đòi buộc sự can đảm của tín thác, việc kiếm tìm công bằng, thực hành yêu thương, và hiểu rõ được tình đồng loại.[315] Thực vậy, chúng ta có thể nói hoà bình là hoa trái của tình yêu hơn là của công bằng, bởi công bằng loại bỏ những vật cản của hoà bình, trong khi hoà bình là một phần của yêu thương mang đến cho nó sự thành toàn.[316]
Cố nhiên nếu xung đột được xem là lý tưởng và hoà bình đơn thuần là một kết quả của cơ chế xung đột, thì hoà bình đích thực sẽ bị huỷ hoại không ngừng. Chiến tranh và nguy cơ chiến tranh không bao giờ dứt chừng nào tội lỗi vẫn còn, nhưng điều ấy tuyệt đối không được biến chiến tranh và nguy cơ chiến tranh thành lợi ích được tìm kiếm sau đó, như thế chiến tranh và nguy cơ chiến tranh là phương tiện của hoà bình, bởi nó sẽ chỉ mang lại hoà bình của sự chết.
Đôi khi chúng ta buộc phải tin rằng những nhà triết học và thần học cổ xưa đã đòi hỏi một sự quy phục vô điều kiện đối với các quyền lực xã hội. Chúng ta cũng hình dung được rằng sự quy phục đó bị thúc đẩy bởi một giả định ngây ngô là các quyền lực xã hội đó được thiết lập một cách thánh thiêng và vì thế hợp pháp cách vô điều kiện. Tuy nhiên, thực sự những con người như Aquinô luôn luôn công nhận có những nguyên nhân hợp pháp để truất phế những nhà lãnh đạo bất công. Sự khác biệt giữa tư tưởng truyền thống và hiện đại là có nhiều cái để làm với nhiều tình huống vốn chấp nhận “bất công.”
Ví dụ, hầu như người hiện đại có khuynh hướng xem cách mạng là điều hợp pháp trong bất cứ lúc nào người dân không bằng lòng với chính quyền của họ. Miễn là nó được chứng minh cách rõ ràng rằng nhân dân không thấy hạnh phúc – phiếu đa số là một thí dụ – thì người lãnh đạo có thể bị truất phế. Điều kiện duy nhất là ý muốn của người dân. Vì thế, lời bào chữa cho việc truất phế các nhà lãnh đạo trong các chế độ dân chủ được rút lại thành một vấn đề, không phải của tiêu chuẩn khách quan nào đó cho sự công bằng, nhưng đơn giản là công luận.
Về quan điểm này thì những nhà tư tưởng thời Trung Cổ có ý kiến khác. Đối với họ, vì quyền cai trị được thiết lập, không phải mang tính cách cá nhân nhưng toàn bộ là từ Thiên Chúa, nên sự vận động của nó phải được đánh giá qua một tiêu chuẩn về công bằng vốn là khách quan, tựa như Thiên Chúa. Nếu nhà cai trị bị truất phế thì anh ta phải bị truất phế bởi điều cho thấy anh ta cai trị cách bất công. Nếu anh ta thi hành chức năng tốt thì cho dù 99% dân chúng muốn truất phế anh ta, thì đó là việc làm bất công.
Để đơn giản hoá vấn đề, chúng ta có thể đưa ra sự phân biệt giữa nhà lãnh đạo, như một cá nhân, và chức vụ mà người đó đang nắm giữ. Sự tôn trọng dành cho nhà lãnh đạo bởi anh ta đang nắm chức vụ. Thực vậy, sự kính trọng mà anh ta nhận được không hẳn là do cá nhân anh ta bởi vì sự kính trọng đó đi theo chức phận thánh thiêng được trao cho anh, nghĩa là, đến từ Thiên Chúa, Đấng mà anh đại diện. Dù cho anh ta có sống đê tiện, thì anh ta vẫn nắm giữ một chức vụ cao cả. Vậy thì thời điểm phù hợp để truất phế một nhà quý tộc đê tiện là khi nào? Khi xem đến sự tách biệt giữa con người (có thể tốt hoặc xấu) và chức vụ (vốn được thiết lập mang tính thánh thiêng, tự thân là tốt), chúng ta có thể nói như những nhà lý luận thời trung cổ rằng việc truất phế hợp pháp nếu là người cai trị tồi dù đó là một người tốt, nhưng truất phế là bất hợp pháp nếu đó là người lãnh đạo tốt dù cho con người anh ta có xấu.
Đó là ý nghĩa những lời Đức Giêsu nói với các tông đồ: “Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm.”[317] Thực vậy, khi đến với nhà lãnh đạo tốt nhưng là con người xấu, chúng ta được nói cho biết là hãy làm điều mà họ nói chứ không phải điều họ làm. Cái ngụ ý rõ ràng nhất ở đây là điều đó, dù rằng Đức Giêsu thẳng thái xác tín tính đạo đức giả của họ, Người vẫn ra lệnh là phải tuân phục.
Kể từ khi xuất hiện của chủ nghĩa tự do theo trường phái Locke, quan niệm chung là mục đích của Nhà nước không gì khác hơn là làm “người dàn xếp các quyền lợi” giữa các cá nhân, và Nhà nước không được dính líu đến sự thăng tiến về bất kỳ lợi ích cụ thể nào vượt quá vai trò thuần tuý về các đặc quyền bảo vệ cá nhân. Đáng tiếc, điều này không bao giờ là quan điểm của Công giáo về mục đích của thẩm quyền chính trị – hay chính xác hơn, quan điểm của Công giáo bao gồm bảo vệ quyền lợi như một mục đích của Nhà nước,[318] nhưng quan điểm này không giới hạn Nhà nước vào riêng mục đích đó, ra như Nhà nước chẳng có bổn phận nào khác.
Hơn nữa, khi Giáo Hội đề cập đến việc duy trì “quyền lợi” của công dân, thường thì Giáo Hội nghĩ đến những điều khác hơn là những cái được đề cập trong cuộc đàm luận chính trị ngày nay. Quyền được làm việc có ý nghĩa, quyền được giáo dục, cũng như quyền có lương thực và nước, là tất cả ý niệm mà Giáo Hội có trong quan điểm của mình khi yêu cầu Nhà nước bảo đảm chắc chắn các quyền căn bản đó.
Vai trò của Nhà nước là một người chủ động – chứ không chỉ là người trung gian giữa các cá nhân tranh chấp với nhau trong việc thi hành cái quyền tự do của họ. Nó được mời gọi đóng vai trò tích cực trong việc tạo ra một môi trường, trong đó quyền lợi và bổn phận được thực thi trọn vẹn.[319]
Giáo Hội dạy rằng các quyền lợi, dù hợp lý, nhưng không tất thiết tuyệt đối. Mỗi quyền lợi phải tuân theo tiêu chuẩn về chân lý và giới hạn theo công ích, cụ thể khi nó xuất hiện trong lãnh vực công cộng. Tách ra khỏi chân lý và công ích, quyền lợi đưa đến việc tự huỷ và sẽ hầu như thoát khỏi tầm kiểm soát của nó. Ở đây, quyền tự do ngôn luận là một thí dụ phù hợp, như Đức Lêô XIII đã nói:
“Giờ đây chúng ta phải xem xét vắn tắt đến quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Khỏi cần phải nói, cũng có thể hiểu được rằng quyền ấy sẽ không tồn tại nếu như nó không được sử dụng đúng đắn, cũng như vượt qua những ranh giới và mục đích của mọi quyền tự do đích thực. Bởi quyền lợi là một sức mạnh luân lý – như chúng ta đã nói trước đó và phải nhắc đi nhắc lại – nên thật là ngớ ngẩn khi ủng hộ rằng tự bản chất không có gì khác biệt giữa đúng và sai, công bằng và bất công. Con người có quyền lợi cách tự do và khôn ngoan để phổ biến trong khắp đất nước những điều gì đúng đắn và chân thực, ngõ hầu mọi người có thể sở hữu chúng; thế nhưng những quan điểm sai lầm, là tai hoạ vô cùng về tinh thần, cộng với các nết xấu làm băng hoại con tim và đời sống luân lý phải bị ngăn chặn cách tích cực nhờ công quyền, vì sợ rằng những sai lầm đó âm thầm làm đổ nát đất nước. Nhưng thái quá của một trí tuệ tháo túng, vốn luôn luôn dẫn tới sự đàn áp của đa số ngây thơ, ít được kiểm soát cách đúng đắn nhờ thẩm quyền của lề luật hơn là những thương tổn bị gây ra do bạo lực chống lại những kẻ yếu thế. Và điều đó hoàn toàn rõ ràng hơn nữa, bởi rất nhiều nhóm cộng đồng lớn hoặc là hoàn toàn bất lực, hoặc chỉ có khả năng với sự khó khăn lớn, để thoát ra khỏi những ảo tưởng và những khéo léo dối trá, đặc biệt như kiểu tâng bốc các đam mê. Giả như tự do ngôn luận và viết lách bừa bãi được cấp cho mọi người, thì chẳng còn gì là quyền thánh thiêng và bất khả xâm phạm; thậm chí những lệnh truyền cao nhất và chân thực nhất của thiên nhiên, được nhìn nhận như là di sản chung và cao quý nhất của nhân loại, cũng sẽ không được tha. Vì lẽ đó, chân lý dần dần bị che khuất bởi bóng tối, sai lầm đa dạng và tai hại, như vẫn thường xảy đến, sẽ thắng thế cách dễ dàng. Cũng thế, phóng túng sẽ dành lấy cái mà tự do đã mất; bởi tự do sẽ tự do hơn và bảo đảm tùy mức độ phóng túng được giữ trong khuôn khổ hoàn toàn. Tuy nhiên, liên quan đến tất cả vấn đề về ý kiến mà Thiên Chúa để lại cho con người tự do thảo luận, tự do tuyệt đối trong tư tưởng và ngôn luận vốn dĩ là quyền của mỗi người; bởi tự do đó không bao giờ hướng con người đến để loại bỏ chân lý, nhưng thường để khám phá ra chân lý và truyền bá chân lý.”[320]
Con người ngày nay tưởng rằng thể xác và cái “ngã” của mình như là một phần của quyền tư hữu của mình. Tuy nhiên, các vị Giáo hoàng phát biểu cách khác:
“Không phải chỉ có trái đất được Thiên Chúa ban cho con người mà con người phải sử dụng nó trong sự tôn trọng ý hướng nguyên thuỷ, tốt đẹp của Đấng Tạo Hoá, nhưng cả con người cũng được Thiên Chúa ban cho chính mình. Như vậy, con người phải tôn trọng cấu trúc tự nhiên và luân lý mà mình đã lãnh nhận.”[321]
Chúng ta đã bàn luận sâu xa về ý nghĩa đúng đắn về quyền tư hữu,[322] qua việc giải thích tại sao và như thế nào quyền tư hữu không bao giờ được xem như là tuyệt đối, nhưng nó chỉ là một lợi ích trong hệ trật các lợi ích, và những ai phủ nhận hệ trật lợi ích thì cũng huỷ bỏ các lợi ích được cấu thành trong đó. Tuy thế, đến đây, thiết tưởng nên bác bỏ một sai lầm khác của thời đại này vốn nhìn nhận nhân vị, đặc biệt là thể xác, như quyền sở hữu hợp pháp của người đó. Quyền tư hữu, tuy là đúng dưới một quan điểm đặc thù, thực sự chỉ đúng một nửa, và vì thế là lầm đường lạc lối nếu nó được chấp nhận cách mù quáng như một nguyên lý hướng dẫn của luật lệ. Thí dụ, nếu chúng ta chấp nhận quan điểm đó cách thiếu hiểu biết, chúng ta đi đến nguy cơ phải dàn xếp giữa quyền của đứa con sắp sinh và quyền của người mẹ, và chúng ta bị dẫn xuống một con đường mù tối. Rất nhiều hiểu biết sai lầm ở đó xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân vốn đã ăn sâu vào chúng ta, chủ nghĩa đó nhắc bảo mỗi người rằng họ chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc họ là ai và sẽ trở thành cái gì. Vì thế, con người phải nhìn nhận cái “ngã” của mình như là tài sản của mình. Thế nhưng, Đức Bênêđictô XVI đưa ra quan điểm khác:
“Tự bản chất, con người tham gia cách tích cực vào sự phát triển chính mình. Sự phát triển được bàn đến ở đây không chỉ đơn thuần là kết quả của vận hành tự nhiên, vì như mọi người đều biết, tất cả chúng ta đều có thể có những chọn lựa tự do và có trách nhiệm. Phát triển cũng không chỉ tùy thuộc vào tính khí thất thường của chúng ta, vì tất cả chúng ta đều biết rằng mình là một quà tặng chứ không phải là cái gì tự sinh. Tự do của ta được định hình cách sâu xa bởi chính hữu thể và bởi cả những giới hạn của mình. Không ai định hình lương tâm của mình cách độc đoán nhưng tất cả chúng ta đều xây dựng cái “tôi” trên nền tảng cái “ngã” (nhân tính) đã được ban cho ta. Không chỉ những người ở bên ngoài không thể kiểm soát chúng ta, nhưng ngay chúng ta cũng không thể hoàn toàn kiểm soát chính mình. Sự phát triển của một con người sẽ bất thành nếu người đó cho rằng mình là tác giả duy nhất của phát triển.”[323]
Đức Giáo hoàng Phanxicô chống lại tư tưởng tương tự vậy, thay thế vào đó là khích lệ việc thông dự tự nguyện vào thân xác tự nhiên, thân xác mà chúng ta đón nhận như tặng phẩm từ Đấng Tạo Hoá:
“… khi nghĩ rằng chúng ta tuyệt đối làm chủ thân xác thì sẽ dễ dàng đưa đến việc nghĩ rằng mình tuyệt đối làm chủ cả thiên nhiên. Phải học hỏi để chấp nhận thân xác của mình, để chăm sóc và tôn trọng những ý nghĩa đa dạng của nó, là yếu tố cốt yếu của sinh thái học nhân bản đích thực. Cũng như việc đánh giá thân xác mình là nam hay nữ cũng cần thiết, để có thể nhận ra chính mình trong việc gặp gỡ với người khác mình. Với cách này, có thể vui mừng đón nhận hồng ân đặc biệt của kẻ khác là đàn ông hay đàn bà, là công trình của Thiên Chúa, và giúp làm phong phú cho nhau.”[324]
Chúng ta không thể sở hữu chính mình bởi lẽ chúng ta là một món quà, và gần nhất một người có thể trở nên sở hữu của chính mình bằng cách tạo ra món quà của mình cho người khác. Hay nói cách khác, bất cứ ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất nó.[325] Chỉ bằng cách chấp nhận nguyên lý về tặng phẩm và vai trò căn bản của nó trong cuộc đời của chúng ta thì chúng ta mới có thể hiểu đúng về bản chất của quyền “sở hữu” của chúng ta. Điều đó thành ra là một quan điểm khiêm tốn hơn luận thuyết chính trị đương thời muốn thuyết phục chúng ta.
Cuối cùng, sẽ không đúng khi bỏ qua đề tài về quyền lợi mà không nhắc đến một sự thật không mấy được hoan nghênh về truyền thống của Giáo Hội – một điều không vừa ý với những ai đã đơn thuần chấp nhận sự tách biệt giữa Giáo Hội và Nhà nước, cùng với quan điểm của chủ nghĩa nhân văn về quyền tối thượng của nhân dân và về chủ nghĩa tục hoá. Sự thật không mấy được hoan nghênh đó là xã hội, nếu muốn cho các quan điểm của xã hội về tự do được hợp pháp, thì không bao giờ được phủ nhận bổn phận với Thiên Chúa, bởi quyền lợi của Thiên Chúa đến trước quyền lợi của con người, và quyền lợi của con người sẽ không tiếp tục tồn tại mà không có nền tảng đó. Như lời của Đức Lêô XIII tuyên bố: “Thế giới đã nghe đủ về cái được gọi là ‘quyền lợi của con người,’ giờ đây hãy nghe chút xíu về quyền lợi của Thiên Chúa.”[326]
- “Giờ đây chúng ta phải xem xét vắn tắt đến quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Khỏi cần phải nói, cũng có thể hiểu được rằng quyền ấy sẽ không tồn tại nếu như nó không được sử dụng đúng đắn, cũng như vượt qua những ranh giới và mục đích của mọi quyền tự do đích thực. Bởi quyền lợi là một sức mạnh luân lý – như chúng ta đã nói trước đó và phải nhắc đi nhắc lại – nên thật là ngớ ngẩn khi ủng hộ rằng tự bản chất không có gì khác biệt giữa đúng và sai, công bằng và bất công. Con người có quyền lợi cách tự do và khôn ngoan để phổ biến trong khắp đất nước những điều gì đúng đắn và chân thực, ngõ hầu mọi người có thể sở hữu chúng; thế nhưng những quan điểm sai lầm, là tai hoạ vô cùng về tinh thần, cộng với các nết xấu làm băng hoại con tim và đời sống luân lý phải bị ngăn chặn cách tích cực nhờ công quyền, vì sợ rằng những sai lầm đó âm thầm làm đổ nát đất nước. Nhưng thái quá của một trí tuệ tháo túng, vốn luôn luôn dẫn tới sự đàn áp của đa số ngây thơ, ít được kiểm soát cách đúng đắn nhờ thẩm quyền của lề luật hơn là những thương tổn bị gây ra do bạo lực chống lại những kẻ yếu thế. Và điều đó hoàn toàn rõ ràng hơn nữa, bởi rất nhiều nhóm cộng đồng lớn hoặc là hoàn toàn bất lực, hoặc chỉ có khả năng với sự khó khăn lớn, để thoát ra khỏi những ảo tưởng và những khéo léo dối trá, đặc biệt như kiểu tâng bốc các đam mê. Giả như tự do ngôn luận và viết lách bừa bãi được cấp cho mọi người, thì chẳng còn gì là quyền thánh thiêng và bất khả xâm phạm; thậm chí những lệnh truyền cao nhất và chân thực nhất của thiên nhiên, được nhìn nhận như là di sản chung và cao quý nhất của nhân loại, cũng sẽ không được tha. Vì lẽ đó, chân lý dần dần bị che khuất bởi bóng tối, sai lầm đa dạng và tai hại, như vẫn thường xảy đến, sẽ thắng thế cách dễ dàng. Cũng thế, phóng túng sẽ dành lấy cái mà tự do đã mất; bởi tự do sẽ tự do hơn và bảo đảm tùy mức độ phóng túng được giữ trong khuôn khổ hoàn toàn. Tuy nhiên, liên quan đến tất cả vấn đề về ý kiến mà Thiên Chúa để lại cho con người tự do thảo luận, tự do tuyệt đối trong tư tưởng và ngôn luận vốn dĩ là quyền của mỗi người; bởi tự do đó không bao giờ hướng con người đến để loại bỏ chân lý, nhưng thường để khám phá ra chân lý và truyền bá chân lý.”[320]
- “Không phải chỉ có trái đất được Thiên Chúa ban cho con người mà con người phải sử dụng nó trong sự tôn trọng ý hướng nguyên thuỷ, tốt đẹp của Đấng Tạo Hoá, nhưng cả con người cũng được Thiên Chúa ban cho chính mình. Như vậy, con người phải tôn trọng cấu trúc tự nhiên và luân lý mà mình đã lãnh nhận.”[321]
- “Tự bản chất, con người tham gia cách tích cực vào sự phát triển chính mình. Sự phát triển được bàn đến ở đây không chỉ đơn thuần là kết quả của vận hành tự nhiên, vì như mọi người đều biết, tất cả chúng ta đều có thể có những chọn lựa tự do và có trách nhiệm. Phát triển cũng không chỉ tùy thuộc vào tính khí thất thường của chúng ta, vì tất cả chúng ta đều biết rằng mình là một quà tặng chứ không phải là cái gì tự sinh. Tự do của ta được định hình cách sâu xa bởi chính hữu thể và bởi cả những giới hạn của mình. Không ai định hình lương tâm của mình cách độc đoán nhưng tất cả chúng ta đều xây dựng cái “tôi” trên nền tảng cái “ngã” (nhân tính) đã được ban cho ta. Không chỉ những người ở bên ngoài không thể kiểm soát chúng ta, nhưng ngay chúng ta cũng không thể hoàn toàn kiểm soát chính mình. Sự phát triển của một con người sẽ bất thành nếu người đó cho rằng mình là tác giả duy nhất của phát triển.”[323]
- “… khi nghĩ rằng chúng ta tuyệt đối làm chủ thân xác thì sẽ dễ dàng đưa đến việc nghĩ rằng mình tuyệt đối làm chủ cả thiên nhiên. Phải học hỏi để chấp nhận thân xác của mình, để chăm sóc và tôn trọng những ý nghĩa đa dạng của nó, là yếu tố cốt yếu của sinh thái học nhân bản đích thực. Cũng như việc đánh giá thân xác mình là nam hay nữ cũng cần thiết, để có thể nhận ra chính mình trong việc gặp gỡ với người khác mình. Với cách này, có thể vui mừng đón nhận hồng ân đặc biệt của kẻ khác là đàn ông hay đàn bà, là công trình của Thiên Chúa, và giúp làm phong phú cho nhau.”[324]
- “Giờ đây chúng ta phải xem xét vắn tắt đến quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Khỏi cần phải nói, cũng có thể hiểu được rằng quyền ấy sẽ không tồn tại nếu như nó không được sử dụng đúng đắn, cũng như vượt qua những ranh giới và mục đích của mọi quyền tự do đích thực. Bởi quyền lợi là một sức mạnh luân lý – như chúng ta đã nói trước đó và phải nhắc đi nhắc lại – nên thật là ngớ ngẩn khi ủng hộ rằng tự bản chất không có gì khác biệt giữa đúng và sai, công bằng và bất công. Con người có quyền lợi cách tự do và khôn ngoan để phổ biến trong khắp đất nước những điều gì đúng đắn và chân thực, ngõ hầu mọi người có thể sở hữu chúng; thế nhưng những quan điểm sai lầm, là tai hoạ vô cùng về tinh thần, cộng với các nết xấu làm băng hoại con tim và đời sống luân lý phải bị ngăn chặn cách tích cực nhờ công quyền, vì sợ rằng những sai lầm đó âm thầm làm đổ nát đất nước. Nhưng thái quá của một trí tuệ tháo túng, vốn luôn luôn dẫn tới sự đàn áp của đa số ngây thơ, ít được kiểm soát cách đúng đắn nhờ thẩm quyền của lề luật hơn là những thương tổn bị gây ra do bạo lực chống lại những kẻ yếu thế. Và điều đó hoàn toàn rõ ràng hơn nữa, bởi rất nhiều nhóm cộng đồng lớn hoặc là hoàn toàn bất lực, hoặc chỉ có khả năng với sự khó khăn lớn, để thoát ra khỏi những ảo tưởng và những khéo léo dối trá, đặc biệt như kiểu tâng bốc các đam mê. Giả như tự do ngôn luận và viết lách bừa bãi được cấp cho mọi người, thì chẳng còn gì là quyền thánh thiêng và bất khả xâm phạm; thậm chí những lệnh truyền cao nhất và chân thực nhất của thiên nhiên, được nhìn nhận như là di sản chung và cao quý nhất của nhân loại, cũng sẽ không được tha. Vì lẽ đó, chân lý dần dần bị che khuất bởi bóng tối, sai lầm đa dạng và tai hại, như vẫn thường xảy đến, sẽ thắng thế cách dễ dàng. Cũng thế, phóng túng sẽ dành lấy cái mà tự do đã mất; bởi tự do sẽ tự do hơn và bảo đảm tùy mức độ phóng túng được giữ trong khuôn khổ hoàn toàn. Tuy nhiên, liên quan đến tất cả vấn đề về ý kiến mà Thiên Chúa để lại cho con người tự do thảo luận, tự do tuyệt đối trong tư tưởng và ngôn luận vốn dĩ là quyền của mỗi người; bởi tự do đó không bao giờ hướng con người đến để loại bỏ chân lý, nhưng thường để khám phá ra chân lý và truyền bá chân lý.”[320]
- “Không phải chỉ có trái đất được Thiên Chúa ban cho con người mà con người phải sử dụng nó trong sự tôn trọng ý hướng nguyên thuỷ, tốt đẹp của Đấng Tạo Hoá, nhưng cả con người cũng được Thiên Chúa ban cho chính mình. Như vậy, con người phải tôn trọng cấu trúc tự nhiên và luân lý mà mình đã lãnh nhận.”[321]
- “Tự bản chất, con người tham gia cách tích cực vào sự phát triển chính mình. Sự phát triển được bàn đến ở đây không chỉ đơn thuần là kết quả của vận hành tự nhiên, vì như mọi người đều biết, tất cả chúng ta đều có thể có những chọn lựa tự do và có trách nhiệm. Phát triển cũng không chỉ tùy thuộc vào tính khí thất thường của chúng ta, vì tất cả chúng ta đều biết rằng mình là một quà tặng chứ không phải là cái gì tự sinh. Tự do của ta được định hình cách sâu xa bởi chính hữu thể và bởi cả những giới hạn của mình. Không ai định hình lương tâm của mình cách độc đoán nhưng tất cả chúng ta đều xây dựng cái “tôi” trên nền tảng cái “ngã” (nhân tính) đã được ban cho ta. Không chỉ những người ở bên ngoài không thể kiểm soát chúng ta, nhưng ngay chúng ta cũng không thể hoàn toàn kiểm soát chính mình. Sự phát triển của một con người sẽ bất thành nếu người đó cho rằng mình là tác giả duy nhất của phát triển.”[323]
- “… khi nghĩ rằng chúng ta tuyệt đối làm chủ thân xác thì sẽ dễ dàng đưa đến việc nghĩ rằng mình tuyệt đối làm chủ cả thiên nhiên. Phải học hỏi để chấp nhận thân xác của mình, để chăm sóc và tôn trọng những ý nghĩa đa dạng của nó, là yếu tố cốt yếu của sinh thái học nhân bản đích thực. Cũng như việc đánh giá thân xác mình là nam hay nữ cũng cần thiết, để có thể nhận ra chính mình trong việc gặp gỡ với người khác mình. Với cách này, có thể vui mừng đón nhận hồng ân đặc biệt của kẻ khác là đàn ông hay đàn bà, là công trình của Thiên Chúa, và giúp làm phong phú cho nhau.”[324]