PHẦN III. NHỮNG NGUYÊN TẮC THƯỜNG HẰNG
Khi đã chấp nhận Giáo Hội, như một “chuyên gia về nhân loại,”[77] cung cấp cho chúng ta một quan niệm về gia đình như là nền tảng của xã hội con người, thì bây giờ chúng ta có thể quay về với “những nguyên tắc phổ quát,” mà Giáo Hội đã khẳng định ngay từ rất sớm rằng chỉ Giáo Hội mới có thẩm quyền để quy định. Dựa trên những nguyên tắc này, vốn là những chỉ dẫn phổ quát hơn là những ứng dụng đặc biệt về chính trị và văn hóa, chúng ta sẽ xây dựng phần còn lại của việc nghiên cứu này.
Khi đã nhận biết rằng con người tự bản tính là một hữu thể xã hội, chúng ta có thể kết luận cách hợp lý rằng tất cả mọi khía cạnh trong đời sống xã hội đều phải liên hệ đến công ích.[78] Tổng thể thì quả thực lớn hơn từng phần.[79] Điều này không thể được hiểu như là một sự phủ nhận cá nhân và đề cao tập thể, nhưng đúng hơn là một mối bận tâm cho cộng đồng, như là một xã hội toàn vẹn, ngõ hầu có thể đáp ứng các nhu cầu của cá nhân, bằng cách cung cấp các điều kiện mà cá nhân cần để thực hiện đầy đủ tiềm năng của mình. Cá nhân thì không nhỏ hơn cộng đồng, nhưng bởi vì cá nhân cần đến cộng đồng vì sự phát triển của mình, cho nên cá nhân phụ thuộc cộng đồng, và vì điều đó, cá nhân có nghĩa vụ tìm cách gìn giữ cộng đồng. Mỗi người buộc phải bày tỏ mối quan tâm đến công ích, và góp sức bao nhiêu có thể. Sẽ là một sự mâu thuẫn hoàn toàn khi hành động trên tiền đề là, mặc dù việc tăng triển phẩm tính của cá nhân được tìm thấy trong cộng đồng, nhưng cá nhân chỉ buộc phải xem xét các hành vi của mình chỉ trong khía cạnh cá nhân. Không có chỗ cho não trạng cá nhân chủ nghĩa trong GHXH.[80]
Cũng cần phải nhắc lại điều này rằng bổn phận quan tâm đến ích chung mở rộng không chỉ về mặt không gian mà còn về mặt thời gian. Phải có sự công bằng giữa các thế hệ. Châm ngôn của Tổng thống Thomas Jefferson: “đất đai chỉ thuộc về những người đang sống” không được Giáo Hội ủng hộ. Giáo Hội đòi hỏi rằng những bận tâm trước mắt của chúng ta bao hàm “cả những người đến sau chúng ta.”[81]
Quả đất này là “vật vay mượn của mỗi thế hệ, và cần phải được truyền lại cho hậu thế.”[82] Thông qua nguyên tắc này, chúng ta được mời gọi thi hành “tình đoàn kết liên đới giữa các thế hệ.”[83]
Như một hệ quả trực tiếp từ nguyên tắc công ích, chúng ta tiến đến nguyên tắc về cứu cánh phổ quát của các tài sản trần gian. Theo cách nói của Công đồng Vaticanô II: “Thiên Chúa đã muốn đặt để trái đất và muôn loài trong đó cho mọi người và mọi dân tộc sử dụng, làm sao để của cải tạo ra phải được phân phối cho tất cả mọi người cách hợp lý, theo sự hướng dẫn của luật công bằng đi đôi với tình bác ái.”[84] Trái đất – vốn là quà tặng đầu tiên và ý nghĩa nhất mà Thiên Chúa dành cho con người – là nguồn nuôi dưỡng bất diệt cho dòng dõi loài người, và vì không ai có thể làm gì mà không có các của cải vật chất trần gian để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người (thức ăn và nơi ở), do đó có một quyền căn bản trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên của trái đất.[85]
Khi tiếp tục tiến hành suy luận, chúng ta bắt gặp quyền tư hữu, điều đầu tiên phải nói về vấn đề tư hữu đó là một hệ quả của cứu cánh phổ quát của các tài sản trần gian. Hiểu theo nghĩa này, ta không nên tưởng tượng quyền tư hữu như một điều gì đó đối lập với cứu cánh phổ quát hay tách khỏi cứu cánh phổ quát, như kiểu hai nguyên lý vận hành trái ngược nhau. Chúng bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Theo Thánh Tôma Aquinô:
“Công hữu tài sản thuộc về luật tự nhiên, không phải bởi vì luật tự nhiên quy định tất cả mọi sự vật thuộc quyền sở hữu của mọi người, và không cái gì được làm của riêng; nhưng bởi vì sự phân chia các của cải thì không thuộc về luật tự nhiên; nhưng đúng hơn, lệ thuộc vào các quy ước của nhân loại và do đó lệ thuộc vào luật chế định… Như vậy, tư hữu không phải là trái ngược với luật tự nhiên, nhưng thêm vào đó bằng sự xác định do trí năng nhân loại.”[86]
Điều mà Thánh Tôma minh giải ở đây là quan niệm của Giáo Hội về “hệ thống cấp bậc của các tài sản trần gian.” Việc mọi người phải có cơ hội chia sẻ của cải trần gian là một mệnh lệnh từ luật tự nhiên, nhưng vì cách tốt nhất để cùng nhau sử dụng có trách nhiệm những của cải này thì không nằm trong quyền sở hữu chung, thay vào đó chúng ta chọn thi hành định chế tư hữu. Quyền tư hữu là một điều thiện hảo vốn “được đặt lên trên” cả cứu cánh phổ quát của các tài sản trần gian để phục vụ nó tốt nhất. Vì lẽ đó, quyền tư hữu phải được hiểu như một phương tiện để đạt được một cứu cánh:
“Việc Thiên Chúa ban trái đất cho con người sử dụng và thụ hưởng không thể nào lại trở thành rào chắn cản trở quyền tư hữu cá nhân. Vì Thiên Chúa ban trái đất cho con người cách chung, không theo nghĩa là họ muốn làm gì thì làm, nhưng đúng hơn phải hiểu rằng Thiên Chúa không đặc biệt ban riêng trái đất cho một ai, và việc tư hữu tài sản nhiều hay ít phụ thuộc vào sự chăm chỉ của từng người, cũng như được ấn định bởi những quy luật cạnh tranh cá nhân. Hơn thế nữa, dù được chia thành những khoảng tư hữu riêng, nhưng trái đất không vì thế mà ngừng nuôi dưỡng con người, bởi vì không ai có thể sống mà không nhờ vào những sản vật từ đất đai.”[87]
Thánh Tôma đưa ra ba lập luận ngắn gọn cho những điều đã trình bày ở trên, mà chúng ta nên trang bị để thêm hiểu biết. Thứ nhất, ai cũng cẩn thận tìm kiếm những cái của riêng mình hơn những cái thuộc về nhiều người hay cộng đồng. Thứ hai, những vấn đề con người sẽ được tổ chức cách trật tự hơn nếu mỗi người được giao trách nhiệm trông coi một vài thứ cụ thể nào đó. Thứ ba, chúng ta nhận thấy rằng nếu mỗi người hài lòng với những gì mình có, thì tình hình đất nước sẽ được ổn định hơn.[88]
Vì gia đình là đơn vị nền tảng của xã hội, chứ không phải cá nhân, cho nên phải thừa nhận rằng định chế về quyền tư hữu có giá trị khi và chi khi nó mang lại lợi ích trước tiên và trên hết cho gia đình, hầu đảm bảo tính bền vững và góp phần vào việc thăng tiến đơn vị nền tảng đó.
“Đây là luật tự nhiên thiêng liêng nhất buộc người cha cung cấp lương thực và tất cả những điều cần thiết cho những người con của mình; và tương tự thế, điều rất tự nhiên là người cha luôn mong muốn cho con cái mình tăng trưởng (những đối tượng sẽ tiếp nhận và phát huy vài nét đặc trưng của người cha), bằng cách cung cấp những điều kiện cần thiết hầu đám trẻ có một cuộc sống tốt đẹp, không bị rơi vào những hoàn cảnh túng thiếu và đau khổ giữa những bấp bênh của đời sống hữu hạn này. Vậy thì, để thực hiện điều này, người cha không còn cách nào khác là phải được quyền sở hữu những tài sản mình làm ra, những thứ mà người cha có thể chuyển giao cho những đứa con bằng quyền thừa kế.”[89]
Trong những trường hợp mà quyền tư hữu cách nào đó chỉ thuộc về các cá nhân, trong khi các thành viên còn lại trong gia đình không có được tài sản hoặc phải phụ thuộc vào một thiểu số cá nhân giàu có nào đó để tồn tại, thì khi đó, rõ ràng là quyền tư hữu không còn phục vụ cho cứu cánh của nó nữa, và nó sẽ tự mình nhận lấy những lời phê bình, chỉ trích thích đáng.
Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã từng phát biểu rằng “tất cả mọi tài sản riêng đều là một sự thế chấp xã hội, ngõ hầu của cải có thể phục vụ cho mục đích phổ quát mà Thiên Chúa trao phó cho chúng.”[90]
Rõ ràng, điều này có nghĩa là quyền tư hữu là không có tính tuyệt đối.[91] Thật vậy, Đức Phanxicô đã từng nói rằng: “Thiên Chúa từ khước mọi tuyên bố sở hữu tuyệt đối.”[92] Khởi điểm của Thiên Chúa là cứu cánh phổ quát của các tài sản trần thế.[93] Bất cứ khi nào những hoàn cảnh nổi lên mà trong đó quyền tư hữu mâu thuẫn với nguyên tắc này, ví dụ, nếu những người dư dật về tài sản không muốn giúp đỡ những người túng thiếu, thì khi ấy việc can thiệp của Nhà nước là hoàn toàn chính đáng. Trong thực tế, vì vai trò của Nhà nước là bảo đảm cho việc qui định và việc phân phối có tính công bằng các tài sản xã hội, cho nên, nếu Nhà nước giữ thái độ im lặng thì thật là vô trách nhiệm. Không những không chống lại quyền tư hữu, mà những hành vi như thế còn có thể trở nên cần thiết để duy trì định chế bằng việc bảo vệ nó khỏi bị lạm dụng. Thánh Aquinô thậm chí còn đi xa hơn nữa, khi nói: “Trong trường hợp tối khẩn, mọi của cải trở nên của chung; vậy kẻ nào lâm vào sự khẩn yếu như thế, được phép lấy của kẻ khác những cái mình cần đến để tồn tại, nếu không có ai muốn cho mình của cải đó.”[94] Mặc dù, một quan điểm như thế nghe có vẻ quá khích, nhưng đã được Giáo lý thừa nhận.[95]
Đức Lêô XIII đã kêu gọi Nhà nước hãy tỏ ra ưu tiên đối với những nhóm xã hội sống phụ thuộc vào quyền hạn về chính trị và kinh tế mà họ có khả năng nắm giữ vì lợi ích của chính họ. Điều đó muốn nói rằng, Nhà nước có bổn phận quan tâm đặc biệt đến các phần tử yếu ớt nhất trong xã hội:
“Tầng lớp người giàu hơn có nhiều cách thức bảo vệ cho chính mình, và đứng vững mà không cần nhiều sự giúp đỡ từ Nhà nước; ngược lại phần đông người nghèo không có nhiều nguồn lực cho bản thân, và phần lớn phải cậy nhờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.”[96]
Cụ thể hơn, khi đề cập đến thị trường, điều này có nghĩa là đôi lúc sẽ thật cần thiết để đặt ra các hạn chế mạnh mẽ hơn dựa trên các hành vi của những người có nguồn tài nguyên lớn hơn, để đảm bảo cho cái gọi là “thị trường tự do” duy trì được sự tự do:
“Để đảm bảo sự tự do kinh tế cho tất cả, mọi người đều có thể hưởng lợi cách hiệu quả, đôi khi cần phải áp đặt các hạn chế trên những người đang sở hữu nguồn tài nguyên và sức mạnh tài chính lớn. Tuyên bố tự do kinh tế trong khi những điều kiện thực tế lại ngăn chặn nhiều người tham gia vào nền kinh tế ấy và các khả năng việc làm tiếp tục bị xiết lại, sẽ trở thành một lối nói hàm hồ gây điều xấu cho các chính sách.”[97]
Bởi vì trách nhiệm này được giao một cách rõ ràng cho Nhà nước, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ quan điểm này hơn nữa khi bàn đến phần xã hội chính trị.[98]
Liên đới và bổ trợ hợp thành một cặp nguyên tắc, giống như quyền lợi và nghĩa vụ, vốn không xem như là một sự tách biệt hoặc một sự đối nghịch nhau, nhưng đúng hơn chúng phải được xem như là hai mặt của một đồng tiền vốn tạo nên sự hài hòa bổ túc cho nhau. Vì sự hỗ tương này của chúng, nên chúng tôi gom chúng lại trong cùng một tiêu đề. Trong thực tế, cũng như quyền lợi sẽ tự hủy nếu tách rời khỏi ý niệm về nghĩa vụ, thì nguyên tắc bổ trợ và nguyên tắc liên đới chắc chắn sẽ bị phá hủy nếu tách biệt cả hai ra. Đó là lý do tại sao, như một quy luật phổ quát chính yếu, chúng ta phải đề phòng với bất kỳ chính khách nào hoặc nhà cải cách nào khẳng định mình là một tín đồ trung thành của một trong hai nguyên tắc này và dường như thờ ơ với nguyên tắc kia. Nếu họ không hiểu được sự hỗ tương của cặp nguyên tắc này, chắc hẳn sẽ phá vỡ tính cân bằng của sự công bằng:
“Nguyên tắc bổ trợ phải liên kết chặt chẽ với nguyên tắc liên đới và ngược lại. Vì bổ trợ nếu không có tính liên đới sẽ sớm rơi vào chủ nghĩa địa phương xã hội, cũng thế, liên đới mà không có bổ trợ cũng rơi vào một hệ thống gia trưởng, hạ thấp giá trị của những người được giúp đỡ.”[99]
Sau khi nhấn mạnh mối liên hệ của hai nguyên tắc, chúng ta tiếp tục thảo luận chân lý duy nhất này vốn được trình bày bởi mỗi nguyên tắc.
Thánh Phaolô từng nói trong Kinh Thánh rằng chúng ta là một thân thể, và “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung.”[100] Nguyên tắc liên đới thì không là gì hơn một sự thừa nhận chân lý này. Nó không phải là cảm xúc hời hợt; nhưng nó là sự thừa nhận một trách nhiệm: “[Liên đới] không phải là một mối đồng cảm mơ hồ hay xúc động hời hợt trước những đau khổ của bao người xa gần. Ngược lại, đó là quyết tâm chắc chắn và bền vững lo cho công ích, nghĩa là cho ích lợi của tất cả và của từng người, bởi vì tất cả chúng ta đều thực sự có trách nhiệm với mọi người.”[101] “Chính trong chiều hướng này mà người ta có thể giải thích câu trả lời của Cain khi Thiên Chúa hỏi: ‘Abel, em ngươi ở đâu?’ – ‘Tôi không biết. Tôi đâu phải là người bảo vệ em tôi?’ (St 4,9). Phải, mọi người đều là ‘kẻ bảo vệ người anh em của mình,’ bởi vì Thiên Chúa giao phó con người cho con người.”[102] Tuy nhiên, mặc dù đó là một khía cạnh không thể chối cãi về nghĩa vụ trong nguyên tắc liên đới, điều cốt lõi của nó là một sự biểu đạt của tình yêu, vì yêu một người nào đó là chú ý đến lợi ích của họ và sẵn sàng hành động để thực hiện được nó.[103]
Các Giáo hoàng đặt ra nguyên tắc này như là nỗ lực để đạt được một “trật tự tiệm tiến”[104] và khuyến khích một cơ cấu “phân tầng”[105] về định chế xã hội. Nguyên tắc bổ trợ này cũng thúc đẩy một đạo lý rằng con người có một vai trò để hành động trong cả đời sống riêng và chung, và phải chấp nhận thực hiện nó hết sức có thể.
- Bổ trợ như là một sự phản ứng đối với chủ nghĩa cá nhân thuần lý. Chúng ta phải cảnh giác với bổ trợ như là một sự lạm dụng của một ý thức hệ tự do chủ nghĩa. Nó không mang nghĩa là khẳng định cho chủ nghĩa cá nhân như người ta vẫn hiểu lầm. Thực tế, nếu chúng ta lần theo sự phát triển của bổ trợ trong GHXH, thì chúng ta sẽ thấy nó được trình bày cách có hệ thống và độc đáo như là một kiểu phản ứng lại trước những sự dữ mà chủ nghĩa cá nhân lan tràn[106] đã gây ra:
“Khi đề cập đến việc cải cách các định chế, chúng ta sẽ nghĩ đến Nhà nước trước tiên, không chỉ vì sự thịnh vượng chung được trông chờ vào hành động của Nhà nước, nhưng vì nhiều vấn đề đã xảy ra tựa như sự dữ của cái mà chúng ta gọi là ‘chủ nghĩa cá nhân.’ Chủ nghĩa này làm suy sụp và gần như phá hủy đời sống xã hội trù phú, một xã hội đã từng đạt đến đỉnh cao phát triển nhờ các hiệp hội đa dạng, mà giờ đây hầu như chỉ còn là những cá nhân và Nhà nước. Đây là một thiệt hại lớn cho chính Nhà nước; vì một khi đánh mất cấu trúc xã hội, và mang lấy hầu như tất cả gánh nặng mà các hiệp hội trước kia phải chịu đựng, thì giờ đây Nhà nước bị áp đảo và đè bẹp bởi vô vàn nghĩa vụ và trách nhiệm.”[107]
Đoạn văn trên minh họa cho thấy rằng, ngay cả các nguyên tắc đúng đắn, nếu bị đẩy tới cùng cực, thì sớm hay muộn chúng sẽ trở thành một sự đối lập. Điều này đã tỏ ra thật sự đúng trong trường hợp của chủ nghĩa cá nhân, như chúng ta đã nhận thấy, chủ nghĩa cá nhân thật sự là nguyên nhân hơn là câu trả lời cho sự phát triển của một Nhà nước gia trưởng.
- Định nghĩa Bổ trợ. Do đó, bổ trợ trình bày một giải đáp cho hai vấn đề của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể, nhằm trở thành một nguyên tắc hài hòa giữa tự trị và hợp nhất:
“Sẽ là vô cùng sai trái khi tước đoạt khỏi cá nhân những thứ mà họ có thể hoàn thành bằng chính năng lực, sự cần cù của họ và cống hiến nó cho cộng đồng, cũng như việc ấn định những công việc mà các tổ chức nhỏ bé có thể đảm đương cho một hiệp hội vĩ mô cao hơn là bất công, là một sai trái nghiêm trọng, đồng thời là hành động phá rối trật tự quyền bính. Vì tự bản chất, mỗi hoạt động xã hội phải giúp đỡ từng thành viên của tổng thể xã hội, và không bao giờ phá hủy và làm tiêu tan các thành viên.”[108]
iii. Bổ trợ cho phép Nhà nước hành động trong phạm vi thích hợp của mình. Chỉ khi nào nguyên tắc bổ trợ được thực thi, thì Nhà nước mới có thể tập trung vào những lãnh vực thuộc về thẩm quyền của mình.
“Vì thế, thẩm quyền tối cao của Nhà nước nên để cho các tổ chức cấp dưới đảm nhận những vấn đề kém quan trọng hơn, nhưng lại có thể khiến Nhà nước phải tốn công tốn sức. Bằng cách này, Nhà nước có thể thực thi một cách tự do, mạnh mẽ và hiệu quả những công việc thuộc về mình như: việc hướng dẫn, việc bảo vệ, việc đề xuất, việc hạn chế, tùy theo hoàn cảnh bắt buộc và nhu cầu đòi hỏi.”[109]
- Bổ trợ hướng đến gia đình và các hiệp hội trung gian. Thật đáng lưu ý lần nữa rằng GHXH hiếm khi đề cập đến con người như những cá thể. Ngay cả khi bảo vệ ý chí tự do của con người, Giáo Hội luôn phát biểu theo cách thức khẳng định hơn là phủ nhận bản tính xã hội con người. Như thế, chính nguyên tắc bổ trợ được tổ chức, không theo hướng cá nhân, nhưng theo hướng các hiệp hội, để cho những cộng đồng nhỏ này – trước tiên là gia đình – có thể hành động một cách có trách nhiệm mà không bị “hút vào” một cộng đồng lớn hơn.[110] Ý tưởng tổng quát này không muốn con người bị phân tán nhỏ đi, nhưng muốn con người có tự do để kết hợp một cách hữu hiệu và dấn thân có trách nhiệm với đồng loại:
“Trước tiên, nguyên tắc bổ trợ là sự trợ giúp cho con người thông qua sự độc lập của những nhóm và hiệp hội trung gian. Sự trợ giúp này được đề nghị khi những cá nhân và những chủ thể xã hội tự sức mình không thể thực hiện những gì thuộc phận vụ của họ, và sự trợ giúp này luôn nhắm đến việc giải phóng con người vì nó thúc đẩy tự do và tham gia qua việc đảm nhận trách nhiệm. Sự bổ trợ tôn trọng phẩm giá con người, khi nhìn họ như một chủ thể có khả năng trao ban một cái gì đó cho kẻ khác. Khi công nhận tính hỗ tương như tâm điểm của đời sống con người, sự bổ trợ thực sự là phương tiện đối kháng hữu hiệu với bất cứ hình thức nào của hệ thống xã hội nặng tính gia trưởng.”[111]
Khi đến với chủ đề tự do và vai trò của nó trong các giáo huấn của Giáo Hội, chúng ta bắt đầu bằng việc lặp lại câu nói của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II: “Tự do không hệ tại ở việc làm những gì mình thích, nhưng mình có quyền làm điều buộc phải làm.”[112] Lời nhận xét ngắn gọn này là một kho tàng đầy ý nghĩa.
- “Công hữu tài sản thuộc về luật tự nhiên, không phải bởi vì luật tự nhiên quy định tất cả mọi sự vật thuộc quyền sở hữu của mọi người, và không cái gì được làm của riêng; nhưng bởi vì sự phân chia các của cải thì không thuộc về luật tự nhiên; nhưng đúng hơn, lệ thuộc vào các quy ước của nhân loại và do đó lệ thuộc vào luật chế định… Như vậy, tư hữu không phải là trái ngược với luật tự nhiên, nhưng thêm vào đó bằng sự xác định do trí năng nhân loại.”[86]
- “Việc Thiên Chúa ban trái đất cho con người sử dụng và thụ hưởng không thể nào lại trở thành rào chắn cản trở quyền tư hữu cá nhân. Vì Thiên Chúa ban trái đất cho con người cách chung, không theo nghĩa là họ muốn làm gì thì làm, nhưng đúng hơn phải hiểu rằng Thiên Chúa không đặc biệt ban riêng trái đất cho một ai, và việc tư hữu tài sản nhiều hay ít phụ thuộc vào sự chăm chỉ của từng người, cũng như được ấn định bởi những quy luật cạnh tranh cá nhân. Hơn thế nữa, dù được chia thành những khoảng tư hữu riêng, nhưng trái đất không vì thế mà ngừng nuôi dưỡng con người, bởi vì không ai có thể sống mà không nhờ vào những sản vật từ đất đai.”[87]
- “Đây là luật tự nhiên thiêng liêng nhất buộc người cha cung cấp lương thực và tất cả những điều cần thiết cho những người con của mình; và tương tự thế, điều rất tự nhiên là người cha luôn mong muốn cho con cái mình tăng trưởng (những đối tượng sẽ tiếp nhận và phát huy vài nét đặc trưng của người cha), bằng cách cung cấp những điều kiện cần thiết hầu đám trẻ có một cuộc sống tốt đẹp, không bị rơi vào những hoàn cảnh túng thiếu và đau khổ giữa những bấp bênh của đời sống hữu hạn này. Vậy thì, để thực hiện điều này, người cha không còn cách nào khác là phải được quyền sở hữu những tài sản mình làm ra, những thứ mà người cha có thể chuyển giao cho những đứa con bằng quyền thừa kế.”[89]
- “Tầng lớp người giàu hơn có nhiều cách thức bảo vệ cho chính mình, và đứng vững mà không cần nhiều sự giúp đỡ từ Nhà nước; ngược lại phần đông người nghèo không có nhiều nguồn lực cho bản thân, và phần lớn phải cậy nhờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.”[96]
- “Để đảm bảo sự tự do kinh tế cho tất cả, mọi người đều có thể hưởng lợi cách hiệu quả, đôi khi cần phải áp đặt các hạn chế trên những người đang sở hữu nguồn tài nguyên và sức mạnh tài chính lớn. Tuyên bố tự do kinh tế trong khi những điều kiện thực tế lại ngăn chặn nhiều người tham gia vào nền kinh tế ấy và các khả năng việc làm tiếp tục bị xiết lại, sẽ trở thành một lối nói hàm hồ gây điều xấu cho các chính sách.”[97]
- “Nguyên tắc bổ trợ phải liên kết chặt chẽ với nguyên tắc liên đới và ngược lại. Vì bổ trợ nếu không có tính liên đới sẽ sớm rơi vào chủ nghĩa địa phương xã hội, cũng thế, liên đới mà không có bổ trợ cũng rơi vào một hệ thống gia trưởng, hạ thấp giá trị của những người được giúp đỡ.”[99]
- “Khi đề cập đến việc cải cách các định chế, chúng ta sẽ nghĩ đến Nhà nước trước tiên, không chỉ vì sự thịnh vượng chung được trông chờ vào hành động của Nhà nước, nhưng vì nhiều vấn đề đã xảy ra tựa như sự dữ của cái mà chúng ta gọi là ‘chủ nghĩa cá nhân.’ Chủ nghĩa này làm suy sụp và gần như phá hủy đời sống xã hội trù phú, một xã hội đã từng đạt đến đỉnh cao phát triển nhờ các hiệp hội đa dạng, mà giờ đây hầu như chỉ còn là những cá nhân và Nhà nước. Đây là một thiệt hại lớn cho chính Nhà nước; vì một khi đánh mất cấu trúc xã hội, và mang lấy hầu như tất cả gánh nặng mà các hiệp hội trước kia phải chịu đựng, thì giờ đây Nhà nước bị áp đảo và đè bẹp bởi vô vàn nghĩa vụ và trách nhiệm.”[107]
- “Sẽ là vô cùng sai trái khi tước đoạt khỏi cá nhân những thứ mà họ có thể hoàn thành bằng chính năng lực, sự cần cù của họ và cống hiến nó cho cộng đồng, cũng như việc ấn định những công việc mà các tổ chức nhỏ bé có thể đảm đương cho một hiệp hội vĩ mô cao hơn là bất công, là một sai trái nghiêm trọng, đồng thời là hành động phá rối trật tự quyền bính. Vì tự bản chất, mỗi hoạt động xã hội phải giúp đỡ từng thành viên của tổng thể xã hội, và không bao giờ phá hủy và làm tiêu tan các thành viên.”[108]
- “Vì thế, thẩm quyền tối cao của Nhà nước nên để cho các tổ chức cấp dưới đảm nhận những vấn đề kém quan trọng hơn, nhưng lại có thể khiến Nhà nước phải tốn công tốn sức. Bằng cách này, Nhà nước có thể thực thi một cách tự do, mạnh mẽ và hiệu quả những công việc thuộc về mình như: việc hướng dẫn, việc bảo vệ, việc đề xuất, việc hạn chế, tùy theo hoàn cảnh bắt buộc và nhu cầu đòi hỏi.”[109]
- “Trước tiên, nguyên tắc bổ trợ là sự trợ giúp cho con người thông qua sự độc lập của những nhóm và hiệp hội trung gian. Sự trợ giúp này được đề nghị khi những cá nhân và những chủ thể xã hội tự sức mình không thể thực hiện những gì thuộc phận vụ của họ, và sự trợ giúp này luôn nhắm đến việc giải phóng con người vì nó thúc đẩy tự do và tham gia qua việc đảm nhận trách nhiệm. Sự bổ trợ tôn trọng phẩm giá con người, khi nhìn họ như một chủ thể có khả năng trao ban một cái gì đó cho kẻ khác. Khi công nhận tính hỗ tương như tâm điểm của đời sống con người, sự bổ trợ thực sự là phương tiện đối kháng hữu hiệu với bất cứ hình thức nào của hệ thống xã hội nặng tính gia trưởng.”[111]
- “Công hữu tài sản thuộc về luật tự nhiên, không phải bởi vì luật tự nhiên quy định tất cả mọi sự vật thuộc quyền sở hữu của mọi người, và không cái gì được làm của riêng; nhưng bởi vì sự phân chia các của cải thì không thuộc về luật tự nhiên; nhưng đúng hơn, lệ thuộc vào các quy ước của nhân loại và do đó lệ thuộc vào luật chế định… Như vậy, tư hữu không phải là trái ngược với luật tự nhiên, nhưng thêm vào đó bằng sự xác định do trí năng nhân loại.”[86]
- “Việc Thiên Chúa ban trái đất cho con người sử dụng và thụ hưởng không thể nào lại trở thành rào chắn cản trở quyền tư hữu cá nhân. Vì Thiên Chúa ban trái đất cho con người cách chung, không theo nghĩa là họ muốn làm gì thì làm, nhưng đúng hơn phải hiểu rằng Thiên Chúa không đặc biệt ban riêng trái đất cho một ai, và việc tư hữu tài sản nhiều hay ít phụ thuộc vào sự chăm chỉ của từng người, cũng như được ấn định bởi những quy luật cạnh tranh cá nhân. Hơn thế nữa, dù được chia thành những khoảng tư hữu riêng, nhưng trái đất không vì thế mà ngừng nuôi dưỡng con người, bởi vì không ai có thể sống mà không nhờ vào những sản vật từ đất đai.”[87]
- “Đây là luật tự nhiên thiêng liêng nhất buộc người cha cung cấp lương thực và tất cả những điều cần thiết cho những người con của mình; và tương tự thế, điều rất tự nhiên là người cha luôn mong muốn cho con cái mình tăng trưởng (những đối tượng sẽ tiếp nhận và phát huy vài nét đặc trưng của người cha), bằng cách cung cấp những điều kiện cần thiết hầu đám trẻ có một cuộc sống tốt đẹp, không bị rơi vào những hoàn cảnh túng thiếu và đau khổ giữa những bấp bênh của đời sống hữu hạn này. Vậy thì, để thực hiện điều này, người cha không còn cách nào khác là phải được quyền sở hữu những tài sản mình làm ra, những thứ mà người cha có thể chuyển giao cho những đứa con bằng quyền thừa kế.”[89]
- “Tầng lớp người giàu hơn có nhiều cách thức bảo vệ cho chính mình, và đứng vững mà không cần nhiều sự giúp đỡ từ Nhà nước; ngược lại phần đông người nghèo không có nhiều nguồn lực cho bản thân, và phần lớn phải cậy nhờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.”[96]
- “Để đảm bảo sự tự do kinh tế cho tất cả, mọi người đều có thể hưởng lợi cách hiệu quả, đôi khi cần phải áp đặt các hạn chế trên những người đang sở hữu nguồn tài nguyên và sức mạnh tài chính lớn. Tuyên bố tự do kinh tế trong khi những điều kiện thực tế lại ngăn chặn nhiều người tham gia vào nền kinh tế ấy và các khả năng việc làm tiếp tục bị xiết lại, sẽ trở thành một lối nói hàm hồ gây điều xấu cho các chính sách.”[97]
- “Nguyên tắc bổ trợ phải liên kết chặt chẽ với nguyên tắc liên đới và ngược lại. Vì bổ trợ nếu không có tính liên đới sẽ sớm rơi vào chủ nghĩa địa phương xã hội, cũng thế, liên đới mà không có bổ trợ cũng rơi vào một hệ thống gia trưởng, hạ thấp giá trị của những người được giúp đỡ.”[99]
- “Khi đề cập đến việc cải cách các định chế, chúng ta sẽ nghĩ đến Nhà nước trước tiên, không chỉ vì sự thịnh vượng chung được trông chờ vào hành động của Nhà nước, nhưng vì nhiều vấn đề đã xảy ra tựa như sự dữ của cái mà chúng ta gọi là ‘chủ nghĩa cá nhân.’ Chủ nghĩa này làm suy sụp và gần như phá hủy đời sống xã hội trù phú, một xã hội đã từng đạt đến đỉnh cao phát triển nhờ các hiệp hội đa dạng, mà giờ đây hầu như chỉ còn là những cá nhân và Nhà nước. Đây là một thiệt hại lớn cho chính Nhà nước; vì một khi đánh mất cấu trúc xã hội, và mang lấy hầu như tất cả gánh nặng mà các hiệp hội trước kia phải chịu đựng, thì giờ đây Nhà nước bị áp đảo và đè bẹp bởi vô vàn nghĩa vụ và trách nhiệm.”[107]
- “Sẽ là vô cùng sai trái khi tước đoạt khỏi cá nhân những thứ mà họ có thể hoàn thành bằng chính năng lực, sự cần cù của họ và cống hiến nó cho cộng đồng, cũng như việc ấn định những công việc mà các tổ chức nhỏ bé có thể đảm đương cho một hiệp hội vĩ mô cao hơn là bất công, là một sai trái nghiêm trọng, đồng thời là hành động phá rối trật tự quyền bính. Vì tự bản chất, mỗi hoạt động xã hội phải giúp đỡ từng thành viên của tổng thể xã hội, và không bao giờ phá hủy và làm tiêu tan các thành viên.”[108]
- “Vì thế, thẩm quyền tối cao của Nhà nước nên để cho các tổ chức cấp dưới đảm nhận những vấn đề kém quan trọng hơn, nhưng lại có thể khiến Nhà nước phải tốn công tốn sức. Bằng cách này, Nhà nước có thể thực thi một cách tự do, mạnh mẽ và hiệu quả những công việc thuộc về mình như: việc hướng dẫn, việc bảo vệ, việc đề xuất, việc hạn chế, tùy theo hoàn cảnh bắt buộc và nhu cầu đòi hỏi.”[109]
- “Trước tiên, nguyên tắc bổ trợ là sự trợ giúp cho con người thông qua sự độc lập của những nhóm và hiệp hội trung gian. Sự trợ giúp này được đề nghị khi những cá nhân và những chủ thể xã hội tự sức mình không thể thực hiện những gì thuộc phận vụ của họ, và sự trợ giúp này luôn nhắm đến việc giải phóng con người vì nó thúc đẩy tự do và tham gia qua việc đảm nhận trách nhiệm. Sự bổ trợ tôn trọng phẩm giá con người, khi nhìn họ như một chủ thể có khả năng trao ban một cái gì đó cho kẻ khác. Khi công nhận tính hỗ tương như tâm điểm của đời sống con người, sự bổ trợ thực sự là phương tiện đối kháng hữu hiệu với bất cứ hình thức nào của hệ thống xã hội nặng tính gia trưởng.”[111]