Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!

GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO: MỘT CÁI NHÌN MỚI TỪ THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM ĐẾN THÔNG ĐIỆP LAUDATO SI’

💻 Bôi chọn và bấm nút hình loa 🔉 để AI đọc tự động. Xin quý vị thông cảm vì máy tính có thể đọc sai những từ ngữ không phải tiếng Việt.

Điều này không giống với chuyện đầu tư – vì đầu tư là trả công tương xứng với sự cố gắng. Khi sự cố gắng không còn khả năng sinh lời, nhà đầu tư sẽ bị mất lợi nhuận. Nhưng khi thu được lợi nhuận từ tiền mà không quan tâm đến các lợi nhuận kiếm được từ việc thực sự sử dụng tiền, khi đó nó được gọi là cho vay nặng lãi, và đã bị kết án ngay từ thời ông Môsê đến thời Đức Kitô và thời Trung cổ, dù nó đã trở thành nền tảng của toàn bộ nền kinh tế hiện đại ngày nay. Vấn đề quan trọng nhất đối với một hệ thống mà cho vay nặng lãi được bình thường hóa đó là một cách tự động nó khiến người nghèo lâm vào tình cảnh khó khăn. Nếu tiền tạo ra tiền, khi đó, càng có nhiều tiền, bạn càng ở vị trí làm ra tiền. Kẻ ăn không hết người lần không ra, và điều này sẽ tạo ra một thế bất lợi vĩnh viễn trong thị trường hướng về những ai thấp kém phải chịu đựng tình thế bất lợi đó. Tương tự, nó sẽ mang lại lợi ích vĩnh viễn cho những ai không cần đến sự thuận lợi đó.

iii. Hệ thống dự trữ nhỏ lẻ

Ta đã có thể tiến thêm một bước xa hơn, không chỉ chịu đựng hình thức cho vay nặng lãi nhưng còn tiếp nhận nó như một nền tảng cho chính hệ thống tiền tệ. Đây chính xác là điều đã xuất hiện trong nền kinh tế hiện hành trong một hình thức mang tên là Hệ thống dự trữ nhỏ lẻ. Henry Ford đã nhận thấy hệ thống này quá ngớ ngẩn đến nỗi đã phát biểu một câu nổi tiếng rằng: Người Mỹ mà hiểu được hệ thống này thì cách mạng sẽ hoàn tất trước điểm tâm.

Phương thức của hệ thống này ẩn tàng sau tên gọi của nói: “ngân hàng dự trữ nhỏ.” Trong hệ thống này, mỗi ngân hàng chỉ bị đòi hỏi phải có trong khoản tiền gửi một khoản nhỏ trích từ khoản họ cho mượn, 10% chẳng hạn. Thí dụ thế này, nếu bạn gửi tiết kiệm 10.000 đô la vào ngân hàng, ngân hàng sẽ được yêu cầu giữ 1.000 đô la “để dành.” Nhờ đó ngân hàng có thể tạo ra những khoản vay cho 9.000 đô la còn lại. Tuy nhiên, không một khoản tiền gửi gốc nào được cho vay một cách thực sự. Đó là lý do tại sao, khi bạn quay trở lại ngân hàng, họ sẽ không bao giờ trả lời rằng: “Xin lỗi, tiền của bạn đang được cho vay.” Trái lại, họ đơn giản “tạo ra” một tài khoản cho vay mới như một khoản nợ trong tài khoản của những người vay mượn. 9.000 đô la của khoản tiền cho vay đã tạo ra bây giờ được tính như một khoản tiền gửi mới trong sổ sách của ngân hàng và vì thế ngân hàng giờ đây đã có 19.000 đô la “trong khoản tiền gửi,” mặc dù khoản gửi ban đầu chỉ là 10.000 đô la. Ngoài ra, điều này nghĩa là 900 đô la tiền ảo đó sẽ được ghi nhận từ 10% tiền dự trữ, và từ đó phần còn lại của “khoản tiền tiết kiệm” có thể được dùng để tạo ra một khoản cho vay khác từ 8.100 đô la. Một lần nữa, “khoản tiền mới” này không được trừ từ những khoản tiền gửi tiết kiệm, nhưng thay vào đó, được tạo ra, bằng cách vẫy nhẹ cây viết, như một khoản nợ mới trong sổ sách của ngân hàng. Cứ như thế, 10% của khoản tiết kiệm mới sẽ được đánh dấu từ khoản dự trữ và phần còn lại được dùng để tạo ra những khoản cho vay, và tiếp tục cho đến khi khoản tiền tiết kiệm 10.000 đôla nguyên thủy được chuyển đổi thành 90.000 đô la bằng phép màu dữ trữ nhỏ. Hầu như toàn bộ quá trình này bao gồm những khoản cho vay thuần túy là ảo trong các sổ sách ngân hàng. Và trong tất cả những khoản nợ đó, vốn được tạo ra từ làn sương ảo này, ngân hàng sẽ có lời.

Tiến trình này là cách tiền được sinh ra trong nền kinh tế hiện đại dù rằng ở đây chúng ta có đơn giản hóa nó một chút cho mục đích của chúng ta. Điều này có nghĩa là, những đoạn video mà chúng ta được xem trong trường học vốn cho thấy những đồng đô la giấy thực tế đang chuyển động qua máy in trong “xưởng in tiền” không thực sự diễn tả hết được tiến trình thực của việc sản xuất tiền. Tiền giấy chỉ lên khuôn khoảng 3% trong số tiền cung ứng. 97% còn lại được tạo ra thông qua ngân hàng lưu giữ nhỏ, vì lợi nhuận của các ngân hàng và nơi đó các ngân hàng thu về lợi tức.

  1. Tiền bạc xét như khoản nợ

Người đọc tinh ý sẽ hoàn toàn nhận ra rằng, bên dưới một hệ thống như thế, hầu như toàn bộ số tiền luân chuyển đó thực sự là khoản nợ. Những đồng đô la mà bạn có trong tài khoản ngân hàng thực sự tượng trưng cho sự cân bằng của một khoản cho vay mà bạn hoặc một người nào đó lấy ra ở cùng một điểm và sự cân bằng mà tự nó chẳng được dựa trên cơ sở nào ngoại trừ tờ giấy ủy quyền được cấp cho một ngân hàng tư nhân.

 

Dĩ nhiên, giờ đây, điều đó là đúng với khái niệm tiền được làm ra từ hư vô (tiền giấy, “fiat”), trừ việc khái niệm đó bị xuyên tạc và làm cho sai lạc. Trong những trường hợp đúng đắn, lành mạnh, tiền tệ được điều chỉnh (tăng lên hoặc giảm đi) dựa trên những yêu cầu của nền kinh tế, trong khi đó, trường hợp của hệ thống lưu giữ nhỏ, quốc gia bị đặt vào vị trí đòi buộc phải vay chính tiền của mình… để làm lời cho những ngân hàng tư nhân. Trong hệ thống đó, các ngân hàng sở hữu nguồn cung cấp tiền và phần còn lại của quốc gia thì mượn nó.

 

Khỏi cần phải nói, điều đó phá hỏng mục đích công khai của nguồn cung ứng tiền có khả năng điều chỉnh và thay vào đó, tạo ra cái được gọi là “động cơ sai lạc” trong bộ phận của các ngân hàng để tạo ra thật nhiều những khoản cho vay bao nhiêu có thể, bởi mỗi một khoản cho vay mới đồng nghĩa với một khoản thu nhập mới theo hình thức lợi tức. Điều đó không những phá đổ sự bình ổn của nguồn cung ứng tiền, mà còn gây ra rủi ro khiến thị trường tín dụng nghiêng lệch hoàn toàn. Dù khi nhìn vào sự khởi đẩu như các ngân hàng đây thực sự có nhiều rủi ro vì luôn luôn có thể xảy ra tình trạng người vay bị vỡ nợ, thế nhưng, các kết quả của cuộc suy sụp năm 2008 đã chứng minh rằng, điều thực sự xảy ra trong những hệ thống như thế thì hoàn toàn khác. Khi người vay vỡ nợ, các ngân hàng, vốn “quá lớn đến nỗi không thể vỡ nợ,” nghiễm nhiên được Nhà nước cứu giúp, nói đúng hơn, được những người đóng thuế cứu giúp. Như thế, người vay vẫn cứ thua là thua trong khi chủ ngân hàng vẫn cứ thắng là thắng. Và gốc rễ của toàn bộ hệ thống này chính là hiệu lực của cùng những nguyên tắc cho vay nặng lãi vốn đã bị lên án suốt nhiều thiên niên kỷ qua.

  1. Các tiềm năng

Tiếp tục với cái nhìn là Giáo Hội không quan tâm đến những giải pháp mang tính kỹ thuật, chúng tôi buộc phải tự hạn chế việc trình bày bản chất của hệ thống, đồng thời đề cập cách ngắn gọn những lựa chọn thay thế có thể tương hợp với các nguyên tắc của lý trí cũng như truyền thống Kitô giáo. Mục đích ở đây không phải là tranh luận để ủng hộ bất kỳ một giải pháp nào, cũng không phải để đề xuất một ưu tiên mang tính kỹ thuật về phần Giáo Hội. Tuy rõ ràng là hệ thống lưu trữ nhỏ không phù hợp với giáo lý của Hội Thánh, thế nhưng bất kỳ đề xuất nào vượt quá chuyện nói về giải pháp nào là thích hợp thì đều là sự đơn giản thái quá, và chỉ đơn thuần mang đến những kết quả trái ngược mà thôi. Tức là, bất kỳ giải pháp thực tế nào cũng sẽ phức tạp hơn việc đơn giản bỏ đi hệ thống lưu trữ nhỏ, dẫu hành động như thế có thể là một khởi đầu tốt đẹp.

  1. Về chủ nghĩa tư bản và xã hội chủ nghĩa
  2. Bản chất của tư bản chủ nghĩa

Thuật ngữ “tư bản chủ nghĩa” báo hiệu bản chất sai lầm mang tính ý thức hệ của nó: giống với cuộc cách mạng “nhân văn” đã quá chú trọng nhấn mạnh duy nhất trật tự loài người, cũng vậy, cuộc cách mạng tư bản là một bước lùi đi vào vết xe đổ. Trong khi chủ nghĩa nhân văn chuyển đổi vị trí trọng tâm từ Thiên Chúa sang con người thì chủ nghĩa tư bản lại đổi vị trí trọng tâm từ con người vào đồ vật. Nền văn minh truyền thống đặt Thiên Chúa làm trung tâm, còn nền văn minh phục hưng lại đặt vào con người, và văn minh hiện đại thì đặt vào nền kinh tế. Sự chuyển đổi cuối cùng này chẳng khác gì là một cuộc đảo lộn mối tương quan có thứ tự cấp bậc rõ rệt giữa hàng hóa vật chất với con người – hoặc giữa tư bản và lao động.

Từ những bước đầu khai triển GHXH, Giáo Hội đã thừa nhận tính thiết yếu của sự cộng tác giữa hai yếu tố này trong tiến trình kinh tế: “Tư bản không thể làm gì nếu không có lao động, và lao động không thể làm gì nếu không có tư bản.”[211] Thế nhưng con người phải luôn luôn giữ vị trí ưu tiên, và chính xác quyền ưu tiên đó đã bị lạc mất do “sự phát triển của nền văn minh thiên về vật chất.”[212]

Một khi chủ nghĩa duy vật đã dành được quyền thống trị, thì sớm muộn gì thành phần vật chất của tiến trình kinh tế cũng thay thế chỗ của con người:

“Trong tất cả mọi trường hợp thuộc loại này và trong mỗi hoàn cảnh xã hội thuộc kiểu đó, có một sự hỗn độn hay thậm chí là một sự đảo lộn trật tự đã được xác nhận từ lúc khởi đầu theo ngôn từ của sách Sáng thế: Lúc đó con người bị coi như một công cụ sản xuất, trong khi họ — và chỉ mình họ, không phụ thuộc công việc họ làm — phải được coi là chủ thể chính của lao động, là người thực hiện và sáng tạo ra lao động. Chính sự đảo lộn trật tự này mà bất kỳ chương trình hay tên gọi nào đi theo chiều hướng đó đều đáng gọi là “chủ nghĩa tư bản.”[213]

Sai lầm đặc biệt đó sẽ tái xuất bất cứ khi nào con người,

“… bị xếp ngang hàng với toàn bộ phương tiện vật chất dùng để sản xuất, bị coi như một dụng cụ mà đáng lý ra theo đúng giá trị của lao động phải được coi như một chủ thể, một tác giả, nói cách khác, như chính mục đích của tất cả tiến trình của sản xuất.”[214]

Ở đây, độc giả được khuyến khích nhớ lại điều đã được nhấn mạnh trong phần thảo luận về luân lý ở phần trước rằng, không bao giờ được phép xem chủ thể con người đơn thuần là công cụ hay phương tiện.[215] Một khi làm suy thoái bản chất con người theo cách này, mối tương quan giữa con người và của cải vật chất bị đảo lộn. Khi đó tư bản lật đổ con người, vốn là nhân tố quan trọng nhất trong những lý do của nền kinh tế.

  1. Sự tách biệt giữa quyền sở hữu với lao động

Xét theo niên đại cũng như theo tính hợp lý, sự đảo ngược mối tương quan giữa tư bản và lao động được dọn chỗ cho sự phát triển khác ẩn sâu bên dưới. Để tư bản và lao động được đặt vào vị thế đối chọi nhau thì trước hết chúng phải khác biệt nhau. Thí dụ, một người có một cửa hàng và làm việc trong cửa hàng đó như chủ nhân sẽ không bao giờ có thể hiểu được hoạt động của mình mang tính hai mặt “tư bản và lao động.” Với ông, không có sự xung khắc. Để tính lưỡng diện tư bản – lao động xảy ra, ông buộc phải mang lấy một vai trò và từ bỏ vai trò kia. Ví dụ, ông có thể chuyển sang vai trò của một ông chủ trả lương cho người làm công để họ điều hành cửa hàng. Trong trường hợp đó, ông đã giới hạn mình vào vai trò của một người chủ cơ sở kinh doanh (tư bản) và thuê người làm việc (lao động) hằng ngày để duy trì cơ sở, thực hiện các đơn đặt hàng, trông coi cửa hàng, v.v… Và chính lúc này chúng ta mới bắt đầu nhận thấy hai yếu tố đã đề cập trên đây – một đại diện cho tư bản và một đại diện cho lao động.

Hơn nữa, vì chủ nghĩa tư bản xem cạnh tranh như là một động lực tích cực trong lý luận của mình nên nó càng làm trầm trọng hơn sự phân cách giữa tư bản và lao động. Từ đó chúng ta mới hiểu được lời than vãn của Đức Lêô XIII: “Việc thuê mướn lao động cũng như việc quản trị kinh doanh chỉ tập trung vào tay của một số ít người; để rồi chỉ một số ít người giàu có đó có thể đặt lên vai đám dân lao động nghèo khổ một cái ách chẳng khác gì cái ách của người nô lệ.”[216] Chính tại đây, người ta đã gieo những hạt giống của sự tập trung, bất bình đẳng và xung đột.

  1. Gỡ bỏ các lực lượng tập quyền

Ngôn sứ Isaia đã từng cảnh bảo dân Israel rằng: “Khốn thay những kẻ tậu hết nhà nọ đến nhà kia nối thêm ruộng này đến ruộng khác, tới mức không còn chỗ trống nào và chỉ còn một mình các người ở lại trong xứ?”[217]

Rõ ràng, ở đây, nỗi ác cảm của người Công giáo đối với sự tập trung quyền sở hữu và của cải đã có nguồn gốc từ xa xưa. Vì thế không có gì ngạc nhiên khi các đời Giáo hoàng luôn lên án nó. Để hiện thực hóa nguyên tắc tư hữu tài sản, phải ngăn ngừa các hệ thống kinh tế ủng hộ việc tập quyền. Lý do là vì một xã hội chỉ có vài người sở hữu tài sản, xã hội đó đang bệnh hoạn trong cơ chế sở hữu, bởi làm sao có thể coi là cơ chế khỏe mạnh khi đại đa số bộ phận dân chúng lại không được quyền sở hữu tài sản? Đây chính là cái mà trong nền kinh tế người ta gọi là lực lượng “ly tâm,” đối lại với lực lượng “hướng tâm” của chủ nghĩa tư bản.[218]

  1. Chủ nghĩa tư bản xét như chủ nghĩa tự do kinh tế

Nhiều vị Giáo hoàng đã gần như đánh đồng hai khái niệm về Chủ nghĩa tư bản và Chủ nghĩa tự do kèm theo một ý nghĩa tiêu cực:

 “Chúng ta đang chứng kiến một cuộc đổi mới ý thức hệ tư bản tự do. Trào lưu này tự khẳng định mình, hoặc nhân danh tính hiệu quả kinh tế, hoặc để bảo vệ cá nhân chống lại những ảnh hưởng ngày càng lan tràn của các tổ chức, hoặc để chống lại các khuynh hướng độc tài về quyền lực chính trị. Hẳn nhiên là sáng kiến cá nhân phải được duy trì và phát huy. Nhưng phải chăng các Kitô hữu đang dấn thân trên con đường này, đến lượt họ có khuynh hướng lý tưởng hóa chủ nghĩa tư bản tự do, như một tiếng kêu đòi quyền tự do? Họ muốn một mô hình mới phù hợp hơn với điều kiện hiện nay, nhưng lại dễ dàng quên rằng, trong chính cội rễ của nó, chủ nghĩa tự do triết học là một khẳng định sai lầm về sự độc lập của cá nhân, trong hành động, động cơ, sự thực hành quyền tự do của nó.”[219]

Sự “khẳng định sai lầm về độc lập của cá nhân” này nằm tại tâm điểm lời ca ngợi mà chủ nghĩa tư bản dành cho chủ nghĩa cá nhân, tư lợi và sự cạnh tranh vốn dẫn đến thuyết tiến hóa xã hội của Darwin.

  1. Chủ nghĩa xã hội xét như con đẻ của chủ nghĩa tư bản

Rõ ràng, trong GHXH không có chỗ cho ý thức hệ tư bản chủ nghĩa. Thế nhưng đồng thời, chúng ta phải thận trọng hầu tránh gây ra sai lầm lớn hơn, một sai lầm phát sinh từ việc chữa sai căn bệnh tư bản chủ nghĩa, vốn tệ hại hơn cả chính căn bệnh đó mà ta gọi là chủ nghĩa xã hội:

“Để chữa trị những sai lầm của chủ nghĩa tư bản, các nhà chủ nghĩa xã hội, vốn khai thác sự đố kỵ của dân lao động nghèo khổ đối với người giàu có, ra sức loại trừ quyền tư hữu và khẳng định rằng tất cả của riêng đều phải trở thành của chung, và được Nhà nước hay các hội đồng thành phố quản lý. Họ tin rằng bằng việc chuyển đổi quyền tư hữu sang quyền chung hưởng, mọi việc sẽ được trở nên đúng đắn, ở mức độ là khi đó, mỗi công dân sẽ được quyền hưởng bất cứ thứ gì mình thích. Thế nhưng, những lý lẽ này rõ ràng không có khả năng kết thúc cuộc tranh luận mà chúng ảnh hưởng đến dân lao động, vốn là những người phải chịu đựng đầu tiên. Hơn nữa, những người theo chủ nghĩa xã hội thật sự là bất công bởi vì họ cướp đoạt của những người sở hữu hợp pháp, bóp méo chức năng của Nhà nước, và hoàn toàn gây xáo trộn cộng đồng.”[220]

Những lời này là của Đức Lêô XIII, người mà sau này được Đức Piô XI ca tụng vì đã bác bỏ cả hai chủ nghĩa Tư bản và chủ nghĩa Xã hội: “Đức Lêô XIII đã không tìm kiếm sự trợ giúp nào từ chủ nghĩa tự do cũng như chủ nghĩa xã hội, bởi một cái thì chứng thực rằng hoàn toàn không thể giải quyết vấn đề xã hội cách đúng đắn, còn cái kia, vốn đề xuất một phương thuốc còn tệ hại hơn chính cái tệ hại, sẽ nhận chìm xã hội loài người vào trong những nguy hiểm to lớn hơn.”[221] “… tất cả hãy nhớ rằng, chủ nghĩa tự do là cha đẻ của chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa đang thâm nhập nền đạo lý – văn hóa, và đã được chủ nghĩa Bônsêvich kế thừa.”[222] Chủ nghĩa tự do, như đã dùng trong bối cảnh này, cũng như luôn được tìm thấy trong GHXH, có can hệ trực tiếp đến các nguyên lý mang tính ý thức hệ của chủ nghĩa tư bản, vốn là danh xưng đơn giản khác của chủ nghĩa tự do kinh tế.

  1. Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, xét như hai ý thức hệ cần phải ngăn chặn

Đoạn văn dưới đây trích từ bài báo Công Bằng Kinh tế cho Tất cả mọi người biểu trưng cho thái độ của GHXH dành cho những thái cực của ý thức hệ:

“Vài người lập luận rằng một nền kinh tế thị trường tự do không bị ràng buộc, nơi mà các ông chủ, công nhân và người tiêu thụ được phép theo đuổi tư lợi cách minh bạch, sẽ cung cấp quyền tự do lớn nhất có thể, mang lại sự sung túc, và cả sự công bằng. Hàm ý của quan điểm mang tính cách giải quyết vấn đề trên đây là phải ít can thiệp vào nền kinh tế bao nhiêu có thể bởi vì việc đó là một cơ chế tế nhị đến độ bất kỳ nỗ lực nào giúp cải thiện nó đều có thể gây ra những ảnh hưởng đối nghịch. Số khác cãi lại rằng, tư bản chủ nghĩa tự nó đã là bất công và vì thế mâu thuẫn với các đòi hỏi luân lý Kitô giáo, bởi nó được đặt nền trên sự hám lợi, cạnh tranh, và chủ nghĩa cá nhân quy ngã. Họ khẳng định rằng, chủ nghĩa tư bản là một lỗ hổng chết người và phải bị thay thế triệt để bởi một hệ thống khác vốn bãi bỏ quyền tư hữu, động cơ lợi nhuận, và thị trường tự do. Theo truyền thống, Giáo huấn xã hội Công giáo vẫn bác bỏ cả hai thái cực mang tính ý thức hệ này vì chúng có khả năng gây ra những hệ quả mâu thuẫn với phẩm giá con người cũng như công bằng kinh tế.”[223]

GHXH là người bảo vệ của “tính trung lập bất biến” – “con đường hẹp” – nghĩa là, GHXH cổ võ những nguyên lý phổ quát về chân lý cũng như công bằng và theo nghĩa đó, GHXH miễn khỏi sự phiến diện của ý thức hệ, vốn luôn nhấn mạnh một chân lý và gạt bỏ tất cả những chân lý còn lại.

  1. Chống lại những hình thái của ‘chủ nghĩa duy kinh tế’ thiên về vật chất.

Để tóm kết những than phiền của Giáo Hội trước những bước đi của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, chúng ta có thể dựa vào ý niệm khái quát chung của chủ nghĩa duy kinh tế (economism). Chủ nghĩa duy kinh tế giản lược các bận tâm xã hội xuống cấp độ kinh tế và vật chất, dựa trên giả định rằng, nếu kinh tế thành công, kéo theo đó, mọi lợi ích xã hội sẽ được thành toàn. Mặc dù hiếm khi được thừa nhận cách rộng rãi và tiếp nhận, thế nhưng loại hình duy kinh tế đó vẫn rất phổ biến trong thực hành. Điều này thậm chí đúng với cả các quốc gia vốn dứt khoát phủ nhận chủ nghĩa duy vật trong lý thuyết.

Nội dung trang này
<1 ... 1011 12 1314 ... 23>
LOAN BÁO

BÌNH LUẬN

Bấm vào để nghe đọc đoạn đã bôi chọn!